LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "những biện phát hoàn thiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá của công ty xuất nhập khẩu hợp tác quốc tế coalimex": http://123doc.vn/document/1053997-nhung-bien-phat-hoan-thien-hoat-dong-nhap-khau-hang-hoa-cua-cong-ty-xuat-nhap-khau-hop-tac-quoc-te-coalimex.htm
khảo làm giảm tỷ lệ tấm 30 - 35% xuống còn 5-10%, nâng độ bóng và độ
đồng đều của gạo tăng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lên 3- - 5- USD.
Khách hàng bắt đầu tin tưởng và ưa chuộng gạo Việt Nam, bên cạnh đó nhập
khẩu còn tạo ra nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giải quyết tình trạng
thiếu nguyên liệu trong nước.
* Ngoài ra nhập khẩu còn thể hiện ưu thế của mình :
- Nhập khẩu phát huy cao độ tính năng động và sáng tạo của mỗi doanh
nghiệp, mỗi tổ chức, mỗi ngành nghề địa phương, mỗi cán bộ tham gia hoạt
động nhập khẩu. Nhờ nhập khẩu mà các luồng thông tin được khai thông, các
mối quan hệ được sử dụng tích cực.
- Kinh doanh hàng nhập khẩu đặc biệt là các loại vật tư nguyên liệu
thúc đẩy cạnh tranh giữa các Việt Nam nhập khẩu cũng như doanh nghiệp sản
xuất tạo ra sự theo dõi chặt chẽ lẫn nhau mà nhờ đó chất lượng kinh tế trong
nước nâng cao, môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn đưa tiến bộ khoa học
công nghệ thường xuyên và có ý thức hơn.
* Nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
dẫn tới việc hình thành các liên doanh giữa các chủ thể trong và ngoài nước
một cách tự giác xuất phát từ lợi ích cả hai bên tạo ra sức mạnh chủ thể trong
nước một cách thiết thực.
* Nhập khẩu cùng các tồn tại và các thành tựu của nó góp phần hoàn
thiện cơ chế quản lý nhập khẩu của Nhà nước cũng như của mỗi địa phương
thông qua các đòi hỏi hợp lý của các chủ thể tham gia nhập khẩu trong quá
trinh thực hiện.
3. Kinh doanh hàng nhập khẩu.
Từ sau khi đất nước ta thay đổi cơ chế (1986) hai từ “Kinh doanh” dẫn
trở nên quen thuộc với người Việt Nam. Vậy kinh doanh là gì ?
* Kinh doanh : kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy, tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào đều có nghĩa là tập
hợp các phương tiện, con người, tư liệu lao động đưa vào hoạt động sinh lợi
cho doanh nghiệp.
* Kinh doanh nhập khẩu : là sự trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các
nước thông qua hành vi mua đáp ứng nhu cầu trong nước nhằm mục tiêu lợi
5
nhuận sự trao đôỉ đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự
phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàbg hoá riêng biệt
của các quốc gia
* Hoàn thiện kinh doanh nhập khẩu:
Mỗi doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh nhập khẩu đều
đặt ra cho mình mục tiêu lợi nhuận nhưng trong điều kiện cạnh tranh ngày
càng gay gắt hiện nay dề đạt được mục tiêu vừa giữa được uy tín khách hàng
yêu cầu hoàn thiện công tác kinh doanh nhập khẩu đang là vấn đề cấp bách .
Hoàn thiện công tác kinh doanh nhập khẩu có nghĩa là doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh nghiệp nhập khẩu phải đảm bảo nguyên tắc.
4. Nhập khẩu thiết bị tiên tiến.
* Sử dụng vốn nhập khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Tiết kiệm và hiệu quả là hai vấn đề của quốc gia cũng như của từng
doanh nghiệp đặc biệt trong điều kiện Việt Nam hiện nay nhu cầu nhập khẩu
để doanh nghiệp hoá hiện đại hoá rất lớn trong khi vốn nhập khẩu co hẹp.
- Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi doanh nghiệp cũng như các cơ quản lý phải :
+ Xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch kinh tế xã hội -
khoa học kỹ thuật của đất nước và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Sử dụng vốn tiết kiệm, dành ngoại tệ nhập khẩu vật tư cho sản xuất.
+ Nghiên cứu thị trường để nhập khẩu hàng hoá với giá trị có lợi nhanh
chóng phát huy tác dụng đẩy mạnh sản xuất nâng cao đời sống nhân dân.
* Nhập khẩu thiết bị tiên tiến hiện đại.
Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và chuyển giao công nghệ kể cả thiết
bị theo con đường ODA phải nắm vững phương châm đón đầu, đi thẳng và
tiếp tục công nghệ hiện đại.
* Nhập khẩu bảo vệ và kết thúc sản xuất trong nước.
Theo quản lý lợi thế so sánh và tương đối nhập khẩu hàng hoá từ các
nước phát triển có điều kiện hơn hẳn ở Việt Nam mang lại lợi ích, nhưng đó
chỉ là lợi ích trước mắt.
Vì vậy chính phủ và doanh nghiệp phải tranh thủ lợi thế từng thời kỳ để
mở mang sản xuất trong nước tạo nguồn vốn hàng xuất khẩu mở rộng thị
trường nước ngoài tránh nhập khẩu tràn lan, bóp chết sản xuất trong nước.
* Chú ý thích đáng đến nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu :
6
Kết hợp nhập khẩu vật tư thiết bị và hàng tiêu dùng là phương thức tích
luỹ vốn đầu tư lâu dài góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa nhập khẩu tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng.
* Kết hợp nhập khẩu và xuất khẩu :
Trong điều kiện thiếu ngoại tệ mạnh trầm trọng doanh nghiệp sản xuất
cũng như doanh nghiệp thương mại không thể chờ đợi nguồn vốn đầu tư từ
Nhà nước hoặc nước ngoài. Vì vậy bản thân doanh nghiệp phải tạo vốn cho
mình bằng cách tìm kiếm đối tác cho mình để xuất khẩu thu ngoại tệ từ đó có
vốn nhập khẩu đồng thời nhập nguyên liệu, máy móc nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành là tiền đề thúc đẩy xuất khẩu.
II - NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ.
Công tác nhập khẩu nói riêng và thương mại quốc tế nói chung do sự
khác biệt về thể chế và khoảng cách địa lý mà các nghiệp vụ nhập khẩu trở
nên phức tạp hơn nhiều, nó đòi ỏi người tham gia vào hoạt động này không
những biết về chuyên môn mà còn phải hiểu biết về phong tục tập quán của
các nước bạn hàng. Dù là nhập khẩu máy móc thiết bị hay bất cức loại hàng
hoá nào cũng phải tuân theo các thao tác dưới đây.
1. Chuẩn bị trước khi ký kết hợp đồng.
Để ký kết một hợp đồng kinh doanh có lợi thì quá trình chuẩn bị tốt
quyết định 50%, quá trình chuẩn bị được bắt đầu từ nghiên cứu thị trường
nhập khẩu.
a) Nghiên cứu thị trường nhập khẩu.
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Thị trường có thể là tổng thể các quan hệ lưu thông hàng hoá
tiền tệ nhưng cũng có thể coi thị trường là tổng khối lượng cầu có khả năng
thanh toán và tổng lượng cung có khả năng đáp ứng. Đó chỉ là khái niệm tổng
quát cụ thể hơn có thể định nghĩa thị trường là người mua và túi tiền của họ.
Để nắm vững thị trường hiểu biết về quy luật vận động của nó nhằm sử
lý kịp thời các tình huống và đưa ra những quyết định chính xác. Mỗi nhà
kinh doanh nhất thiết phải thực hiện hoạt động nghiên cứu thị trường, muốn
nghiên cứu thị trường trước hết phải :
* Nhận biết mặt hàng nhập khẩu :
- Phải xác định sẽ nhập mặt hàng nào đầu tiên quan trọng quyết định
toàn bộ quá trinh nhập khẩu sau này, mục đích của việc nhận biết mặt hàng
7
để lựa chọn mặt hàng kinh doanh có lợi nhất. Muốn vậy, phải giải đáp được 5
câu hỏi sau :
Thị trường đang cần mặt hàng gì ?
Nhà kinh doanh phải bán cái thị trường cần chứ không bán mình có mà
thị trường không cần, muốn vậy người nhập khẩu cần tìm hiểu nhu cầu thị
trường trong nước về quy cách phẩm chất, chủng loại bao bì, số lượng , nhãn
hiệu
Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó trong nước như thế nào ?
Chú ý cần tìm hiểu thời gian thị hiếu người tiêu dùng, quy luật biến đổi
nhu cầu tiêu dùng trong nước về mặt hàng đó .
Mặt hàng cần nhập đang ở thời kỳ nào của chu kỳ sống ?
Do mỗi mặt hàng có chu kỳ sống riêng biệt doanh nghiệp nên phân tích
chu kỳ sống của sản phẩm. Nếu sản phẩm đang ở thời kỳ xâm nhập thị trường
nhưng có nhiều triển vọng thì nên nhập khẩu lượng lớn. Nếu đang phát triển
hay bão hoà thì nên nhập khẩu từ từ với số lượng vừa phải đề thăm dò tình
hình thị trường. Khi sản phẩm đã rơi vào tình trạng chín muồi hay suy thoái
thì nên dừng nhập thu hồi vốn chờ kỳ kinh doanh sau.
Tình hình sản xuất mặt hàng đó trong nước và Thế giới ra sao ?
Doanh nghiệp cần quan tâm đến cung nước ngoài về giá cả, khối lượng
sự biến động về nhu cầu trong nước để quyết định nhập khẩu.
Tỷ xuất ngoại tệ mặt hàng đó ra sao ? Dự vào phác thảo kế hoạch nhập khẩu
có thể tính toán tương đối chính xác xuất ngoại tệ của mặt hàng định nhập so
với tỷ giá hối đoài nều nhỏ hơn thì doanh nghiệp không nên thực hiện thương
vụ này.
- Việc lựa chọn hàng hoá nhập khẩu không chỉ dựa vào những tính toán
biểu hiện cụ thể của hàng hoá mà cọn dựa trên cơ sở những kinh nghiệm của
người nghiên cứu thị trường để dự đoán các biến động của giá cả thị trường
trong và ngoài nước, khả năng thương lượng để đạt được điều kiện mua bán
có ưu thế.
* Nghiên cứu dung lượng thị trường.
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một
phạm vi thị trường nhất định trong thời gian nhất định người nghiên cứu thị
trường xác định nhu cầu thật của khách hàng, lượng dự trù xu hướng biến
động của nhu cầu trong từng thời điểm, các vùng các khu vực sản xuất tiêu
8
dùng có nhu cầu lớn, đặc điểm nhu cầu trong từng lĩnh vực sản xuất tiêu
dùng.
* Loại nhân tố làm thị trường biến động có chu kỳ tính thời vụ trong
sản xuất lưu thông phân phối hàng hoá.
* Loại nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến thị trường, như các tiến bộ khoa
học kỹ thuật công nghệ kỹ thuật, các chính sách của Nhà nước, chính cách
của các tập đoàng kinh tế tư bản lớn, thị hiếu tập quns của người tiêu dùng,
ảnh hưởng đến khả năng sản xuất thay thế.
* Loại nhân tố ảnh hưởng tạm thời : như đầu cơ tích chữ gây đột biến
về cung cầu. Các nhân tố về thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, động đất. Các yếu
tố về chính trị - xã hội như đình công có thể làm nhu cầu tăng hay giảm đột
ngột trong thời gian ngắn.
Cùng với nghiên cứu dung lượng thị trường người kinh doanh cũng
phải nắm bắ tình hình kinh doanh các loại hàng hoá đó trên thị trường, các đối
thủ cạnh tranh, các bạn hàng đặc biệt, các điều kiện về thông lệ quốc tế đề hoà
nhập nhanh chóng có hiệu quả tránh được các sơ suất trong giao dịch buôn
bán.
* Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu.
- Giá cả là biểu hiện bằng tiền của hàng hoá, biểu hiện các mối quan hệ
tổng hợp trong nền kinh tế. Trong buôn bán quốc tế giá cả thị trường ngày
càng trở nên phức tạp do việc mua bán qua các khu vực và trong thời gian dài
giá cả có thể bao gồm giá trị tinh của hàng hoá, bao bì, chi phíh vận chuyển,
bảo hiểm các chi phí khác tuỳ thuộc vào từng bước giao dịch sự thoả thuận
giữa các bên tham gia nghiên cứu giá cả hàng hoá bao gồm giá thời điểm và
dự đoán ra xu hướng biến động trong sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng.
Giá đề cập ở đây là giá của các giao dịch thông thường kèm theo bất cứ điều
kiện đặc biệt nào.
- Xu hướng biến động của giá được dự đoán trên cơ sở sự tác động của
các nhân tố sau :
+ Nhân tố chu kỳ của nền kinh tế.
+ Sự lũng đoạn của các Công ty đa quốc gia.
+ Nhân tố cạnh tranh
+ Nhân tố cung cầu
+ Nhân tố lạm phát
+ Nhân tố thời vụ.
9
* Nghiên cứu phương thức thanh toán :
- Hiệu quả của kinh doanh nhập khẩu chỉ có thể xác định qua thanh
toán, nó là trước bảo đảm cho người nhập khẩu nhận hàng hoá, như xuất khẩu
nhận được tiền. Trong thanh toán phải nghiên cứu lựa chọn tỷ giá đồng tiền
thanh toán, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán, các điều kiện bảo
đảm hối đoái.
b) Lựa chọn đối tượng giao dịch.
Việc lựa chọn đối tượng giao dịch dựa trên cơ sở nghiên cứu :
- Tình hình sản xuất của hàng, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh để thấy
được khả năng cung cấp lâu dài thường xuyên, khả năng liên kết liên doanh
và đặt hàng sản xuất.
- Khả năng về vốn có cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép xác định ưu thế
thanh toán. Doanh nhân có vốn là cơ hội cho bên Việt nam tín dụng, giải
quyết tính trạng thiếu bốn tạm thời.
- Thái độ và quan điểm kinh doanh, không phải mọi doanh nhân đều có
quan điểm đúng đắn, không có thái độ hợp tác, lựa dối bạn hàng. Do có ít
kinh nghiệp thực tế nên doanh nhân Việt nam nên lựa chọn các bạn hàng có
uy tín lâu năm trên thị trường quốc tế, có quan điểm kinh doanh theo hướng
hai bên cùng có lợi, làm ăn lau dài lấy chữ tín làm đầu.
- Uy tín trên thương trường.
+ Lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nên chọn người xuất khẩu trực
tiếp hạn chế các hoạt động trung gian, song trong một số trường hợp mới
thâm nhập thị trường nên sử dụng trung gian với tư cách đại lý, môi giới có
hiệu quả.
+ Việc lựa chọn đối tượng giao dịch có căn cứ khoa học là điều kiện
quan trọng để thực hiện thắng lợi hoạt động nhập khẩu nhưng công việc này
một phần phải dựa vào kinh nghiệm của người nghiên cứu thị trường.
c) Lập phương án giao dịch.
Lập kế hoạch cụ thể để tiến hành hoạt động bao gồm nhiều chi tiết
trong đó có các vấn đề sau :
- Lựa chọn mặt hàng kinh doanh
- Xác định số lượng hàng nhập tối ưu cho từng đợt nhập qua công thức
D =
Trong đó :
N : Khoảng cách nhập hàng năm
10
D : lượng đặt hàng từng lần nhập
C
1
: Chi phí thu mua vận chuyển tương đối cố định cho từng lần nhập.
C
2
: Chi phí bảo quản một đơn vị hàng hoá trong 1 năm.
- Lựa chọn thông tin khách hàng phương thức giao dịch.
- Lựa chọn thời gian giao dịch ngắn hạn hay dài hạn tuỳ thuộc vào hàng
hoá hay dung lượng thông tin.
- Các biện pháp để đạt được mục tiêu lựa chọn : chiêu đãi quảng cáo
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đào tạo cán bộ.
- Xây dựng luận chứng cho mục tiêu trên, dự đoán chất lượng các công
việc trên thông qua các chỉ tiêu.
Tỷ xuất lợi nhuận : P =
Thời gian hoàn vốn : t =
Trong đó :
P : Lợi nhuận (Doanh lợi)
K : Mức khấu hao và lãi vay ngân hàng.
C : Vốn
R : Mức hoàn trả.
2. Đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng.
Trong hoạt động nhập khẩu thường sử dụng các hình thức đàm phán
như : Đàm phán qua thư, điện tín, thư nhanh hay dịch vụ chuyển phát nhanh
(DHL), FAX áp dụng với bạn hàng tin tưởng lâu năm. Các hình thức đàm
phán bằng gặp gỡ trực tiếp chỉ dùng khi có các hợp đồng lớn phức tạp cần
giải thích rõ ràng chặt chẽ. Hình thức này tốn kém nhưng đem lại hiệu quả
cao.
- Các loại hợp đông thường được sử dụng trong nhập khẩu hàng hoá
là :
+ Hợp đồng giao hàng một lần
+ Hợp đồng giao dịch định kỳ.
+ Hợp đồng thanh toán.
+ Hợp đồng chuẩn bị sẵn
- Các phương thức ký kết hợp đồng thường được áp dụng trong các
doanh nghiệp nhập khẩu hiện nay là :
+ Hai bên cùng ký vào một hợp đồng
+ Người mua xác định vào bản chào hàng của người bán.
11
+ Người bán xác nhận văn bản là người mua đã chấp nhận các
điều khoản trong thư chào hàng tự do.
- Các hợp đồng trên chỉ được coi như đã ký kết khi các bên có liên
quan có tư cách pháp lý và đều đã ký hợp đồng. Hợp đồng có 3 bên trở lê phải
được tất cả các bên cùng ký hoặc làm hợp đồng giữa hai bên một.
a) Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Hợp đồng nhập khẩu là loại hợp đồng mua bán đặc biệt trong đó người
xuất khẩu có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua không
cùng đơn vị thường trú trong nước, người nhập khẩu có trách nhiệm thanh
toán khoản tiền bằng trị giá hàng hoá cho người bán qua các phương thức
thanh toán quốc tế. Hợp đồng nhập khẩu có các đặc điểm là luật điều chỉnh
hợp đồng là luật quốc tế. Chủ thể hợp đồng là các đơn vị thường trú khác
nhau hàng hoá thường được chuyển qua biên giới, đồng tiền thanh toán là
ngoại tệ tự do, chuyển đổi ngôn ngữ ở hợp đồng là ngôn ngữ quốc tế, thường
là tiếng Anh.
Hợp đồng nhập khẩu thông thường bao gồm các điều khoản sau :
- Tên địa chỉ, trụ sở giao dịch, điện thoại, FAX, tài khoản ngoại tệ của
các bên tham gia ký kết hợp đồng.
- Điều khoản về tên hàng, đơn vị tính, đơn giá, giá trị toàn bộ hợp đồng.
- Điều khoản về quy cách, phẩm chất hàng hoá.
- Bao bì đóng gói, mã hiệu.
- Thời gian địa điểm phương thức giao hàng, điều khoản này quy định
rõ điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, phí tổn mà người mua, người
bán phải trả, ngày giao hàng, ngày ký vận đơn, quy định hàng hoá có được
chuyển tải hay không.
- Điều khoản về giám định hàng hoá, hàng hoá trước khi giao phải
được giám định về chất lượng, phẩm chất, cơ quan giám định do hai bên quy
định.
- Sát trung hàng hoá (Nếu bên nhập khẩu yêu cầu) bên bán phải có
nhiệm vụ sát trùng hàng hoá trước khi xếp hàng lê phương tiện vận chuyển.
Công việc này phải được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
- Điều khoản về xếp hàng và thưởng phạt, thông thường trước khi giao
hàng bên mua phải thông báo cho bên bán về phương tiện vận chuyển quy
định rõ thời gian, thời hạn xếp hàng. Ghi rõ hình thức thưởng phạt nếu xếp
hàng nhanh, chậm. Khi xếp hàng xong bên bán phải thông báo cho bên mua
số vận đơn và ngày ký cuối cùng, các thông tin liên quan đến hàng hoá.
12
- Quy địn về điều khoản thanh toán : Đồng tiền thanh toán, phương
thức thanh toán, thời hạn thanh toán.
- Các trường hợp bất khả kháng : là các trường hợp không thể ngờ đến
mà hai bên đã chứng minh rằng họ đã làm hết khả năng để tránh hậu quả.
- Quy định trách nhiệm các bên khi vi phạm hợp đồng : Bên nhập khẩu
khi thấy hàng hoá không đảm bảo như hợp đồng thì phải có chứng nhận của
cơ quan có thẩm quyền và có khiếu nại. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán đúng
thời gian bằng đồng tiền ghi trong hợp đồng quy định mức phạt nếu một bên
đơn phương huỷ bỏ hợp động. Bên đó phải chịu mọi phí tổn gây ra do việc
huỷ bỏ hợp đồng hay gây ra cho cả hai bên.
- Quy định các thủ tục giải quyết tranh chấp : Ghi rõ trọng tài hay toà
án nào sẽ giải quyết nếu có tranh chấp giữa các bên và chi phí khiếu nại do ai
chịu.
- Ngoài ra còn các điều khoản về lệ phí chi phí, thuế chi phí nhận hàng,
hiệu lực của hợp đồng.
b) Thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Trước kỳ kết hợp đồng phải được chuẩn bị sẵn đầy đủ tránh mọi sai sót
trong khi đàm phán ký kết làm cho các thoả thuận có lợi cả hai bên, tránh các
bất lợi xảy ra cho mình.
Sau khi ký kết hai bên cùng nhau trên tinh thần trách nhiệm và hợp tác
để thực hiện đúng hợp đồng về thời gian quy định. Việc thực hiện hợp đồng
theo các trình tự sau :
* Xin giấy phép nhập khẩu đối với các mặt hàng ngoài ngành nghề kinh
doanh.
Sau khi ký hợp đồng, xin giấy phép nhập khẩu là vấn đề đầu tiên quan
trọng về mặt pháp lý để tiến hành thực hiện hợp đồng. Với mục đích thúc đẩy
thương mại trong nước chính phủ Việt nam đã quyết định trong nghị định
89/CHI PHÝ ngày 15 tháng 12 năm 1998. Kể từ ngày 1/2/1999 ccs doanh
nghiệp Xuất nhập khẩu sẽ không phải xin chuyển nhưng để đa dạng hoá mặt
hàng tận dụng các thời cơ thuận lợi phục vụ yêu cầu tiêu dùng sản xuất Nhà
nước vẫn cho phép các doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng ngoài ngành
nghề kinh doanh nhưng phải xin giấy phép từng lần nhập khẩu tịa Vụ Xuất
nhập khẩu, Bộ THƯƠNG MẠI hoặc qua phòng giấy phép.
* Thuê tầu lưu cước.
13
Trong quá trình nhập khẩu việc ký hợp đồng cũng như chi trả chi phí
thuê tầu tuỳ vào điều kiện cơ sở giao hàng đã quy định trong INCONTERM
90 người nào có trách nhiệm thuê tàu sẽ phải thực hiện.
Ví dụ : Nếu hợp đồng giao hàng là giá CIF hay bất cứ loại giá nào thì
người bán phải thuê tầu, người kỳ hợp đồng thuê tầu phải dựa trên cơ sở :
- Những điều khoản ghi trong hợp đồng thương mại.
- Đặc điểm củ hàng hoá người thuê tầu phải dựa vào đặc điểm các loại
hàng hoá có các đặc tính lý hoá đòi hỏi phải có phương thức vận chuyển xếp
dỡ đặc biệt như Chè được xếp đáy Boong không gần các loại như Xà phòng,
hàng dễ vỡ mau hỏng phải vận chuyển bằng đường không, hàng tươi sống
phải thuê tầu có thiết bị đông lạnh, về khối lượng nếu khối lượng lớn có thể
thuê tầu chợ, đăng ký tại hãng vận chuyển.
- Cơ sở giao dịch hàng
* Đối với thuê tầu biển có 2 loại tầu vận chuyển :
- Tầu chợ : là tầu chạy theo tuyến nhất định ghé vào cảng quy định theo
lịch trình định trước .Tầu chợ thường chỉ chở các loại hàng hoá bao gói đóng
kiện. Tầu chợ có giá cước đơn giản, doanh nghiệp chỉ cần liên hệ qua đại diện
hãng tầu xắp xếp lịch vận chuyển. Người thuê tầu phải chấp nhận biểu giá và
không thuận tiện nếu cảng chở hàng không có trong lịch trình của tầu.
- Tầu chuyến : là tầu vận chuyển trên biển trong khu vực nhất định và
lịch trình của ngưởi thuê tầu. Theo phương thức này người mua có thể bốc dỡ
xếp ở bất kỳ cảng nào với giá cước thoả thuận nên tương đối rẻ, việc vận
chuyển nhanh do không phải ghé vào các cảng không cần thiết. Nhưng việc
ký hợp đồng thuê tầu chuyến đòi hỏi người đi thuê phải có kinh nghiệm, hiểu
biết về lĩnh vực này, về giá cả, sự biến động, uy tín của hãng tầu. Ở Việt nam
thường thuê tầu chợ để vận chuyển hàng hoá, trong nhiều trường hợp các
doanh nghiệp uỷ thác cho các Công ty vận chuyển như VIETFRANCA.
VOCAS - TRANSIMEX nhưng việc này cũng làm tăng chi phí nhập khẩu.
c) Mua bảo hiểm hàng hoá.
Chuyên chở hàng hoá từ doanh nghiệp xuất sang doanh nghiệp nhập
khẩu có thể xẩy ra nhiều rủi ro tổn thất cùng với việc phát triển ngành bảo
hiểm nhằm chia sẻ rủi ro mua bảo hiểm cho hàng hoá trở nên quen thuộc với
doanh nghiệp nhập khẩu.
Ở Việt nam các doanh nghiệp thường mua lại bảo việt với các loại bảo
hiểm thông thường sau.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét