LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Thang Thanh Hoa": http://123doc.vn/document/568428-xac-dinh-thiet-hai-va-muc-boi-thuong-cho-nguoi-bi-oan-trong-hoat-dong-to-tung-hinh-su-thang-thanh-hoa.htm
người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự
Thang Thanh Hoa
Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Am Hiểu
Năm bảo vệ: 2010
Abstract. Xác định rõ thiệt hại và mức bồi thường trong từng trường hợp cụ thể.
Làm rõ mối liên hệ giữa quy định của pháp luật và áp dụng trong thực tiễn các quy
định về xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố
tụng hình sự. Làm rõ tầm quan trọng của mối liên hệ giữa thiệt hại và mức bồi
thường thỏa đáng cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Đưa ra một số
kiến giải nhằm hoàn thiện các chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
nhà nước đặc biệt là bồi thường thiệt hại cho người bị oan do hoạt động tố tụng hình
sự gây ra ở Việt Nam.
Keywords. Luật dân sự; Pháp luật Việt Nam; Tố tụng hình sự; Bồi thường thiệt hại;
Người bị oan
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc khắc phục, bồi thường cho người bị oan do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là
cần thiết nhằm khôi phục thiệt hại vật chất, tinh thần cho người bị oan, trả lại công bằng xã
hội. Mặc dù đã có Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Luật trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nhà nước đã có hiệu lực, nhưng việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho
người bị oan còn nhiều bất cập, thiệt hại của người bị oan chưa được bù đắp thoả đáng, quyền
và lợi ích của họ chậm được khắc phục đã tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.
Chính vì vậy, việc xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động
tố tụng hình sự là rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện về mặt pháp lý và áp dụng trong
thực tiễn chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đã có một số công trình khoa học, bài viết, chuyên
đề liên quan đến nội dung của đề tài như:
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Mai Anh: "Những vấn đề cơ bản về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự".
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thị Bích Loan: "Một số vấn đề về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín".
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Mai Anh: "Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra".
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thái Phương: "Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước".
- Sách chuyên khảo "Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính
mạng" của TS Phùng Trung Tập.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết của các tác giả trên các tạp chí khoa học liên quan đến vấn đề
pháp lý như: Bài viết "Chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan - lý luận và thực tiễn" của tác
giả Ngô Văn Hiệp; Bài viết "Hoàn thiện pháp luật về minh oan và bồi thường thiệt hại cho người bị
oan trong tố tụng hình sự" của TS. Nguyễn Ngọc Chí; Bài viết "Khắc phục tình trạng oan, sai
trong tố tụng hình sự" của ThS. Bùi Kiên Điện; Bài viết "Vấn đề oan sai trong tố tụng hình sự" của
ThS. Lê Thị Thúy Nga hay bài viết "Thực tiễn áp dụng Nghị quyết 388 trong việc bồi thường thiệt hại
cho người bị oan và một số kiến nghị" của tác giả Đinh Văn Quế và Thanh Nga…và còn khá nhiều
bài viết của nhiều tác giả về vấn đề oan sai trong tố tụng hình sự. Mỗi bài viết đều thể hiện sự nhìn
nhận, đánh giá ở những góc độ khác nhau về vấn đề này.
Nhìn chung các đề tài đã đề cập đến vấn đề cơ bản của Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng nói chung, đi sâu phân tích các trường hợp, các nội dung trong bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, xem xét, đánh giá một cách khái quát vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của nhà nước, phân tích, đánh giá các khái niệm liên quan đến trách nhiệm bồi thường
nhà nước, phân tích vấn đề trách nhiệm bồi thường đối với oan sai trong tố tụng…
Tuy nhiên các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng nói chung và đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước một cách chung
chung hoặc đi sâu phân từng vấn đề nhỏ của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà
nước.
Do vậy, đề tài "Xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động
tố tụng hình sự" là một đề tài mới chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu, phân
tích cho đến thời điểm hiện tại.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích:
- Tìm ra những luận cứ khoa học và căn cứ thực tiễn cho việc xác định thiệt hại và mức
bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự một cách đúng đắn, kịp thời,
hợp lý nhất. Đồng thời góp phần vào công cuộc áp dụng hoàn thiện các chế định pháp lý về
bồi thường thiệt hại nhà nước nói chung và bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt
động tố tụng hình sự nói riêng.
Nhiệm vụ:
- Xác định rõ thiệt hại và mức bồi thường trong từng trường hợp cụ thể
- Làm rõ mối liên hệ giữa quy định của pháp luật và áp dụng trong thực tiễn các quy định
về xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Làm rõ tầm quan trọng của mối liên hệ giữa thiệt hại và mức bồi thường thỏa đáng cho
người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Đưa ra một số kiến giải nhằm hoàn thiện các chế định pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nhà nước đặc biệt là bồi thường thiệt hại cho người bị oan do hoạt động tố
tụng hình sự gây ra ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
"Xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình
sự" cũng là một trong những đề tài nghiên cứu, phân tích về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng hay còn gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà xét về bản chất thì
bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình
sự gây ra được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự, mà hậu quả pháp lý của nó về mặt tài sản
được các bên thỏa thuận thông qua thương lượng hoặc do Tòa án quyết định trong trường
hợp thương lượng không thành, một bên tiến hành khởi kiện. Đây là một dạng của bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng có chủ thể đặc biệt - một bên là Cơ quan nhà nước (Cơ quan có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại) và một bên là công dân. Theo đó, cơ quan có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại buộc phải khắc phục hậu quả bằng cách phục hồi danh dự, bồi thường những
thiệt hại về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại.
Tuy nhiên, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ bồi thường cho người bị thiệt
hại những thiệt hại hợp lý được nhà nước quy định dựa trên những căn cứ về thiệt hại, có hành
vi vi phạm pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra,
người gây thiệt hại có lỗi khi thi hành công vụ. Vậy những khoản bồi thường nào gọi là hợp lý?
Có những thiệt hại của người bị oan có thể định giá bằng tiền nhưng cũng có những thiệt hại
việc bồi thường bằng tiền chỉ mang tính tượng trưng, khắc phục được phần nào những tổn thất
mà người bị oan đã phải gánh chịu. Cách thức xác định những thiệt hại như thế nào? Sự cần
thiết của việc làm rõ các quy định này có ý nghĩa đối với thực tiễn giải quyết bồi thường oan sai
ở nước ta hiện nay? Mối quan hệ giữa việc xác định thiệt hại chính xác đúng đắn hợp lý với
mức bồi thường thỏa đáng góp phần bảo đảm công bằng xã hội ra làm sao? Các quy định của
pháp luật hiện hành về xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan hiện nay ở Việt
Nam có tính áp dụng thực tiễn hay không? Tất cả những câu hỏi trên sẽ một phần nào được tác
giả phân tích, giải đáp trong đề tài này, góp một phần vào công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ
thống pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước và khả năng áp dụng trong thực
tiễn giải quyết bồi thường oan sai hiện nay của nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của Chủ ` nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó là các phương pháp nghiên cứu
khoa học như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê… Tất cả các phương pháp này đều được vận dụng một cách linh hoạt,
sáng tạo góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và hoàn thành đề tài của tác giả.
6. Ý nghĩa và điểm mới của đề tài
- Đưa ra và luận giải sự cần thiết và tính hợp lý của việc xác định thiệt hại và mức bồi
thường thiệt hại nhà nước nói chung và cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự nói
riêng.
- Có những luận cứ mới về mối quan hệ chặt chẽ giữa xác định thiệt hại và mức bồi
thường và lý giải vấn đề tại sao khi nghiên cứu về vấn đề này không thể tách biệt việc xác
định thiệt hại và mức bồi thường. Đồng thời có những luận cứ so sánh các quy định pháp luật
về mặt luật thực định và áp dụng trong thực tiễn về sự phù hợp, không phù hợp của việc xác
định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan (bị gây thiệt hại).
- Có những đánh giá về sự phát triển các quy định của pháp luật về vấn đề này qua các
thời kỳ xây dựng pháp luật.
- Đưa ra một số nhận xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại nhà nước hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan
trong hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị
oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 3: Tình hình áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về xác định thiệt
hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ MỨC BỒI THƯỜNG
CHO NGƯỜI BỊ OAN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Lịch sử hình thành
1.1.1. Sơ lược pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố
tụng hình sự một số nước trên thế giới
Về mặt lịch sử, xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới lần thứ
hai, nhiều nước giành được độc lập, nhiều cuộc cách mạng dân chủ đòi quyền lợi chính đáng
kể cả trong trường hợp lợi ích bị xâm phạm bởi cơ quan công quyền. Do quá trình lịch sử như
vậy mà trong Hiến pháp của nhiều nước đã ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước và nhiều quốc gia trên thế giới đã có Luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước đặc biệt là một số nước đã ban hành văn bản pháp lý cơ bản về đền bù hình sự hay
đền bù oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự.
Nhật Bản là nước mà pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước rất hiệu quả.
Trong đó hai đạo luật ban hành cùng năm 1947 là Hiến pháp năm và Luật Bồi thường nhà nước.
Luật Bồi thường nhà nước của Nhật Bản tuy chỉ có 6 Điều luật nhưng việc áp dụng lại rất linh
hoạt vì Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền trong việc giải thích và áp dụng pháp luật khi giải quyết
các vụ việc cụ thể. Bước đột phá trong vấn đề đền bù nhà nước được đánh dấu vào năm 1950,
Nghị viện Nhật Bản tiếp tục ban hành Luật Đền bù hình sự, theo đó, quy định trách nhiệm đền bù
tổn thất của Nhà nước đối với những người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự - một
điểm cần lưu ý là đạo luật này chỉ áp dụng cho trường hợp mà nạn nhân đã được chuyển sang giai
đoạn xét xử ở Tòa án và được Tòa án phán quyết là trắng án. Một điểm cần lưu ý khác là đạo luật
này nhằm mục đích áp dụng cho những hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng mà không xem xét
đến yếu tố lỗi của người trực tiếp thực hiện hành vi tố tụng đặc biệt là chính sách đền bù thỏa
đáng.
Cộng hòa Liên bang Đức thì không có một hệ thống pháp luật rõ ràng về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước. Năm 1981, Cộng hòa liên bang Đức ban hành Luật về trách
nhiệm Nhà nước; tuy nhiên, sau đó đạo luật này bị tuyên là trái Hiến pháp và vì vậy không có
hiệu lực thi hành. Hiện nay việc xét xử của Tòa án đối với các yêu cầu bồi thường nhà nước
được thực hiện trên cơ sở Điều 34 Hiến pháp Đức và Điều 839 Bộ luật Dân sự Đức về trách
nhiệm của công chức do vi phạm trách nhiệm công vụ.
Trung Quốc - nước láng giềng của Việt Nam cũng có hệ thống pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước đã được định hình ổn định. Văn bản pháp luật hiện nay được áp
dụng để giải quyết các yêu cầu bồi thường nhà nước của Trung Quốc là Luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước được Quốc hội Trung Quốc thông qua năm 1994. Khác với, Luật
của Trung Quốc lại quy định rất chi tiết và cụ thể về các vấn đề, ví dụ: các trường hợp được bồi
thường do xâm phạm quyền nhân thân (Điều 3); các trường hợp được bồi thường do xâm phạm về
tài sản (Điều 4); các trường hợp Nhà nước không phải bồi thường (Điều 5) v.v Ngoài ra, để áp
dụng Luật này trên thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc và Viện kiểm sát nhân dân tối
cao Trung Quốc cũng đã có văn bản hướng dẫn để thi hành.
1.1.2. Sơ lược về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố
tụng hình sự ở Việt Nam
Việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra đã thể
hiện từ lâu và được ghi nhận tại Hiến pháp. Cụ thể, Điều 29 Hiến pháp 1959; Điều 73 Hiến
pháp 1980;. Đoạn 2 Điều 72 Hiến pháp. Bộ luật Dân sự 1995, Điều 624 quy định về bồi
thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Cụ thể hóa
quy định của Bộ luật Dân sự, năm 1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/CP về giải
quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ
quan tiến hành tố tụng gây ra. Và sau đó là các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Bộ luật Tố tụng hình sự 2004 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 24 Bộ luật Tố tụng Hình sự
1988 thành hai nguyên tắc độc lập là nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và
phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29) và nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi
thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây
ra (Điều 30).
Quán triệt đầy đủ yêu cầu Chỉ thị số 53-CT/TW và Nghị quyết số 08, ngày 17/3/2003, Ủy
ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 388/2003/ NQ-UBTVQH11 bồi thường
thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra.
Ngày 25/3/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ
Tư pháp, Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 01/2004/ TTLT-
VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC hướng dẫn việc thực hiện Nghị quyết 388 (sau
đây gọi tắt là Thông tư 01). Ngày 13/5/2004, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã
ban hành Chỉ thị số 04 về việc triển khai thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự và yêu cầu Viện
kiểm sát các cấp tiến hành tổng rà soát lập danh sách những người bị oan thuộc trách nhiệm bồi
thường của Viện kiểm sát nhân dân. Tiếp đố, ngày 28/5/2004 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã
có văn bản hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực
hiện việc tổng rà soát, ngày 1/6/2004 đã có hướng dẫn thống nhất mở sổ thụ lý vụ việc giả
quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại người bị oan và hướng dẫn về các trình tự thủ tục giải
quyết bồi thường; Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 72/2004/KHXX ngày
21/4/2004 hướng dẫn cụ thể hơn về thẩm quyền và các thủ tục bồi thường của ngành tòa án
theo quy định của Nghị quyết 388; Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 18/2004/TT-BCA
ngày 9/11/2004 hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan do người có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc Công an nhân dân gây ra.
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã tiếp tục ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cán bộ
công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tố tụng tại Điều 619:
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại
phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi
trong khi thi hành nhiệm vụ (Điều 620). Nhằm khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực bồi
thường thiệt hại cho người bị oan, sai nói chung và cho người bị oan trong hoạt động tố tụng
hình sự nói riêng, Quốc hội khóa 11 đã ban hành Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm
2009. Trong đó quy định khá chi tiết các nguyên tắc, thủ tục bồi thường, vấn đề hoàn trả, đặc
biệt là vấn đề xác định thiệt hại và mức bồi thường
1.1.3. Xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng
hình sự Việt Nam
Trước khi Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời và nay là Bộ Luật dân sự năm 2005, Cho dù
không được quy định một cách cụ thể rõ ràng trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào nhưng
nội dung vấn đề xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan vẫn được hiểu trên
các nguyên tắc, quy tắc cơ bản của Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đã quy định khá chi tiết vấn đề xác định thiệt
hại và mức bồi thường cho người bị oan. Đặc biệt trong Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại
nhà nước năm 2009 thì vấn đề này càng được khẳng định trên cơ sở khi có công dân bị oan,
sai do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, cơ quan có cán bộ, công
chức thực hiện hành vi gây thiệt hại phải tiến hành khắc phục hậu quả trên hai phương diện là
khôi phục danh dự và bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho họ.
Dưới phương diện khôi phục danh dự:
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải xin lỗi, cải chính công khai cho người bị
oan thông qua hai hình thức là trực tiếp và tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị oan, có
sự tham dự của chính quyền địa phương nơi người bị oan cư trú, đại diện cơ quan nơi có người
bị oan làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị xã hội mà người bị oan là thành viên. Đăng
trên tờ báo trung ương (Báo nhân dân hoặc Quân đội Nhân dân) và một tờ báo địa phương
trong ba số liên tiếp, trừ trường hợp người bị oan hoặc người thân của họ yêu cầu không đăng
báo.
Dưới phương diện bồi thường thiệt hại về vật chất: được xét trên hai khía cạnh là thiệt hại
do tổn thất về tinh thần và thiệt hại về vật chất. Trong đó có các quy định chi tiết về xác định thiệt
hại và mức bồi thường trong từng trường hợp cụ thể như: Thiệt hại do tổn thất về tinh thần, thiệt
hại vật chất chia thành các nhóm là: thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị oan chết; thiệt
hại về vật chất trong trường hợp người bị oan bị tổn thất về sức khỏe; trả lại tài sản và bồi thường
thiệt hại trong trường hợp tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất của người bị
oan.
Song song với việc xác định thiệt hại khá rõ ràng trong từng trường hợp là việc quy định
mức bồi thường cũng rất chi tiết như việc căn cứ vào giá tài sản cùng loại hoặc tài sản có
cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản bị phát mại, bị mất;
trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi thường được
xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại gây
ra; thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được ấn định
mức bồi thường là ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu
1.2. Thiệt hại, xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt
động tố tụng hình sự
1.2.1. Thiệt hại và xác định thiệt hại trong Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.2.1.1 Thiệt hại
Theo luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do
việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân và các chủ thể
khác. Tổn thất thực tế được đề cập ở đây là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần,
hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu.
1.2.1.2. Thiệt hại về vật chất
Theo quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật
chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý cho việc ngăn chặn, hạn chế thiệt
hại, thu nhập thực tế bị mất, thu nhập thực tế bị giảm sút của người bị thiệt hại và tùy từng
trường hợp có thể được tính cho cả người chăm sóc người bị thiệt hại.
Mặc dù thiệt hại về vật chất có thể lượng hóa bằng tiền nhưng trên thực tế các vụ án đòi
bồi thường thiệt hại do bị oan sai cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xác định thiệt hại về vật
chất dẫn đến việc giải quyết kéo dài do không thỏa thuận được mức bồi thường hoặc mức bồi
thường tòa án quyết định quá thấp so với yêu cầu đòi bồi thường của người bị oan. Bên cạnh đó,
có những vụ án cấp sơ thẩm quyết định mức bồi thường quá thấp so với thực tế chi phí gia đình
người bị thiệt hại đã bỏ ra, không bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, cấp phúc
thẩm đã khắc phục thiếu sót, sửa bản án sơ thẩm, tăng mức bồi thường.
Nhiều vụ án giữa người bị oan và cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã đạt được thỏa
thuận về vấn đề bồi thường thiệt hại như phương thức khắc phục thiệt hại, các thiệt hại được
bồi thường, mức bồi thường, thời gian bồi thường… mà không cần đưa vụ án ra xét xử tại tòa
án.
Có một số vụ án các bên không thể thống nhất thương lượng được vấn đề bồi thường và
người bị oan đã khởi kiện ra tòa án. Đa phần những vụ án như vậy đều xuất phát từ việc
người bị oan đưa ra yêu cầu bồi thường quá cao trong khi mức bồi thường mà tòa án đưa ra
lại quá thấp so với yêu cầu đó hoặc do các khoản bồi thường không thể xác định được cụ thể.
Cũng có trường hợp việc đòi bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chỉ đạt được
thương lượng thỏa thuận một phần các khoản bồi thường, còn một số khoản khác thì người bị
oan khởi kiện ra tòa án.
Như vậy, thiệt hại về vật chất là những thiệt hại trị giá được bằng tiền, đó là thiệt hại
thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại. Đó là những thiệt hại vật chất trong
các thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm…
1.2.1.3. Thiệt hại về tinh thần
Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về tinh thần và quy định mức tiền bồi
thường thiệt hại về tinh thần tại khoản 2 Điều 609 và khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự. Nghị
quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 08 tháng
7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã có sự hướng dẫn cụ thể về bồi thường tổn thất tinh thần.
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để quy thành
tiền áp dụng cho mọi trường hợp. Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về
tinh thần tùy vào từng trường hợp cụ thể nhằm mục đích an ủi, động viên và phần nào đó tạo điều
kiện để có thể khắc phục khó khăn, làm dịu đi nỗi đau cho chính người bị oan hay cho những
người thân thích của họ.
Khi xem xét tổn thất về tinh thần phải xem xét đến mức độ tổn hại đến đời sống của
người bị oan, mức độ, thời gian bị oan ức, tính chất dữ dội của sự đau đớn, thiệt hại, sự
thương tổn về mặt tinh thần, sự mất mát hao tổn uy tín, danh dự, nhân phẩm, mức độ lỗi của
người bị oan…
1.2.2. Sự độc lập của các loại thiệt hại
Thiệt hại về tinh thần là thiệt hại không mang tính tài sản, không thể cân, đo, đong, đếm
được, không thể tính được giá trị thành tiền. Bởi vậy không thể nêu ra nguyên tắc bồi thường
toàn bộ thiệt hại về tinh thần như đối với thiệt hại về vật chất được. Yêu cầu đòi bồi thường
thiệt hại về tinh thần tạo thành một yêu cầu độc lập bên cạnh yêu cầu đòi bồi thường các thiệt
hại về vật chất. Có những trường hợp, kết hợp bồi thường cả hai loại thiệt hại đó, nhưng có
những trường hợp không có bồi thường thiệt hại về vật chất mà chỉ có bồi thường thiệt hại về
tinh thần.
1.2.3. Xác định thiệt hại
Việc xác định thiệt hại theo những quy định tại các điều từ 608 đến 612 Bộ luật Dân sự
cùng các quy định khác của pháp luật có liên quan đến việc xác định thiệt hại và bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại phải xác định được trên cơ sở khách quan, do vậy khi xác
định thiệt hại phải đặt thiệt hại đó trong mối liên hệ về mặt không gian và thời gian của thiệt
hại. Việc xác định đúng thiệt hại là việc quan trọng và cần thiết trong việc xác định trách
nhiệm bồi thường và phạm vi bồi thường của người gây thiệt hại.
1.2.4. Mức bồi thường
Việc xét mức bồi thường thiệt hại như thế nào cũng là một vấn đề cần bàn đến, đó là khi mức
bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì các đương sự có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi
mức bồi thường. Thông thường những khoản mà đương sự đưa ra đề nghị được thay đổi là thu
nhập bị mất, thu nhập bị giảm sút, tiền cấp dưỡng. Đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến các quy
định về bồi thường trong pháp luật của các quốc gia vì nó liên quan đến "túi tiền" của Nhà nước
(ngân sách) và có mối liên hệ chặt chẽ với tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi gây thiệt
hại.
1.2.5. Xác định thiệt hại và mức bồi thường trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà
nước
Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định chỉ bồi thường cho những thiệt hại thực tế
xảy ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại gián tiếp hay thiệt hại suy diễn.
Luật Bồi thường nhà nước của Nhật Bản không quy định cụ thể về việc xác định thiệt hại,
nhưng thực tiễn thi hành đạo luật này cho thấy, việc xác định thiệt hại được tiến hành trên cơ sở
áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự và quyền xác định thiệt hại cũng như mức bồi thường
thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án khi giải quyết từng yêu cầu bồi thường cụ thể tại Tòa
án. Nguyên tắc bồi thường ở Nhật Bản là bồi thường toàn bộ những thiệt hại đã được Tòa án
xác định.
Luật Bồi thường liên bang Hoa Kỳ cũng quy định chỉ bồi thường cho những thiệt hại thực tế.
Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc thì quy định rất cụ thể về việc xác định thiệt
hại và mức bồi thường, ví dụ: trường hợp công dân bị xâm phạm quyền tự do thân thể thì có
mức bồi thường xác định; trường hợp bị xâm phạm sức khỏe thì những thiệt hại như chi phí
bệnh viện, chi phí phục hồi sức khỏe cũng là một loại thiệt hại và được bồi thường.v.v
Luật về Thủ tục và Trách nhiệm nhà nước của Canada không quy định cụ thể loại thiệt
hại nào được bồi thường và vì vậy, về nguyên tắc, được hiểu là pháp luật Canada không có
một giới hạn nào về thiệt hại và mức bồi thường.
1.2.6. Mối quan hệ giữa xác định thiệt hại và mức bồi thường
Trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trong bồi thường thiệt hại nhà
nước cho người bị oan sai nói riêng thì hai vấn đề xác định thiệt hại và mức bồi thường khi
nghiên cứu cũng như trong áp dụng thực tiễn giải quyết các vụ việc cụ thể, chúng ta không
thể tách biệt hai vấn để này. Bởi vì việc xác định thiệt hại là tiền đề xác định mức bồi thường
cho người bị thiệt hại.
1.3. Khái niệm "oan", "sai" và "người bị thiệt hại"
Trong tố tụng hình sự, một người được coi là bị oan khi bản thân họ là người vô tội
nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng, bằng các quyết định tố tụng đặc trưng của mình khẳng
định họ là người có tội, thực hiện các hành vi tố tụng, thậm chí áp dụng các biện pháp cưỡng
chế tố tụng hoặc hình phạt đối với họ và do đó gây thiệt hại cho họ về mặt vật chất, thể chất
hoặc tinh thần hay đồng thời cả ba loại thiệt hại đó ở mức độ nhất định. Ngoài ra, "oan" còn
được hiểu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng sai tội danh, sai khung hình phạt
dẫn đến quyết định mức hình phạt nặng hơn so với mức hình phạt do điều luật quy định đối
với hành vi phạm tội mà bị cáo, người bị kết án đã thực hiện trong thực tế.
Việc làm oan người vô tội luôn là hệ quả của các hành vi trái (sai) pháp luật; còn "sai"
được hiểu với nghĩa là tính chất của hoạt động hoặc tính chất của việc giải quyết vụ án.
Người bị thiệt hại, trong quan hệ dân sự về bồi thường thiệt hại nhà nước thì người bị
thiệt hại là những người (tổ chức, cá nhân) bị hành vi trái pháp luật của Nhà nước (cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền) bằng những quyết định, hành vi của mình gây ra những tổn
thất về mặt vật chất hay về mặt tinh thần.
Cả ba khái niệm trên đều xuất phát từ một hành vi trái pháp luật nào đó của các bên chủ thể
khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, hình sự, kinh tế, hành chính, thì hành án… dẫn tới
làm sai, làm oan một vụ việc, một người nào đó. Từ hành vi trái pháp luật này dẫn tới những thiệt
hại nhất định cho họ mà những thiệt hại này cần được khắc phục, bồi thường. Khái niệm "oan"
được dùng trong quan hệ pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, khái niệm "sai" trong hình sự thường
xuất phát từ việc làm oan dẫn tới giải quyết vụ án sai trái. Và "sai" thường được sử dụng trong tất
cả các quan hệ pháp luật. Còn khái niệm "người bị gây thiệt hại" là một khái niệm rộng, được sử
dụng chung cho tất cả các quan hệ pháp luật, quan hệ xã hội. Trong đó ngay cả quan hệ pháp luật
hình sự, trong bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự hiện nay
cũng được sử dụng thay thế cho khái niệm "oan".
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ MỨC BỒI THƯỜNG
CHO NGƯỜI BỊ OAN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. Căn cứ xác định thiệt hại và mức bồi thường
Thứ nhất, đối với tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng cần căn cứ vào thời giá thị trường của vật
đó và tại nơi vật đó bị gây thiệt hại để xác định mức bồi thường.
Thứ hai, đối với vật nuôi, cây trồng thì việc căn cứ vào không gian và thời gian của thiệt
hại để xác định mức thiệt hại là rất quan trọng. Vì những thiệt hại trên được xác định một
cách khách quan và chính xác, có cơ sở; những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế và những thiệt
hại chắc chắn xảy ra, xác định được. Những thiệt hại do suy đoán đều không được xem là
thiệt hại.
Thứ ba, việc xác định thiệt hại về nhân thân thực chất là xác định những lợi ích vật chất
mà người bị thiệt hại cần được bù đắp hợp lý.
2.2. Xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng
hình sự
2.2.1. Xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan do tổn thất về tinh thần
Trong quy định về thiệt hại do tổn thất về tinh thần của Nghị quyết 388, Luật trách nhiệm
bồi thường nhà nước năm 2009 (Điều 47) và các văn bản hướng dẫn thi hành thì người bị thiệt
hại nói chung và người bị oan nói riêng về thiệt hại do tổn thất về tinh thần được phân chia làm
các trường hợp khác nhau trên cơ sở xác định các thiệt haị khác nhau như: thiệt hại do tổn thất
về tinh thần trong trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; Thiệt hại do tổn
thất về tinh thần trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm; Thiệt hại do tổn thất về tinh thần
trong trường hợp người bị thiệt hại chết; Thiệt hại do tổn hại về tinh thần trong trường hợp bị
khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành án cải tạo không
giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo.
2.2.2. Xác định thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị oan chết
Đối với người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra thì
việc xác định thiệt hại về vật chất do người bị oan chết căn cứ vào Nghị quyết 388, Luật trách
nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009 (Điều 48), các văn bản hướng dẫn thi hành thì bao
gồm các chi phí sau:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị oan trước khi chết.
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị oan có nghĩa vụ cấp dưỡng
2.2.3. Xác định thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị oan tổn hại về sức khỏe
Điều 609 Bộ Luật dân sự cũng như Nghị quyết 388 và Luật trách nhiệm bồi thường thiệt
hại nhà nước thì thiệt hại về vật chất do tổn hại về sức khỏe được phân chia thành nhiều
nhóm thiệt hại khác nhau gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị
giảm sút của người bị thiệt hại (người bị oan).
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế của người chăm sóc người bị thiệt hại (bị oan)
trong thời gian điều trị.
2.2.4. Xác định thiệt hại trong trường hợp tài sản bị xâm phạm
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 (Điều 608), Nghị quyết 388 (Điều 8), Luật trách
nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước năm 2009 (Điều 49), nhìn chung, có sự giống nhau cơ bản
về vấn đề xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Tài sản bị mất, bị phát mại là những tài sản đã không tìm thấy hoặc đã thuộc quyền sở
hữu của người khác. Trong trường hợp này căn cứ để xác định thiệt hại cho tài sản là giá tài
sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài
sản đã bị phát mại, bị mất tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Trường hợp tài sản bị hư hỏng là trường hợp tài sản đã bị mất đi một phần hoặc bị biến
dạng, tài sản đó không còn nguyên vẹn như ban đầu nếu không sửa chữa, tôn tạo thì sẽ không
còn nguyên tính năng sử dụng. Nên bắt buộc phải sửa chữa khôi phục lại tình trạng ban đầu.
Vậy việc xác định thiệt hại trong trường hợp này cần lưu ý tới những vấn đề sau: nếu tài sản
vẫn còn sửa chữa, khôi phục được thì thiệt hại được xác định là các chi phí có liên quan cho
việc sửa chữa, khôi phục tài sản theo giá thị trường về việc sửa chữa, khôi phục tại thời điểm
giải quyết bồi thường. Nếu tài sản hư hỏng đến mức không thể sửa chữa, khôi phục được thì
thiệt hại được xác định theo quy định về tài sản bị mất hoặc bị phát mại.
Trường hợp thiệt hại phát sinh do không khai thác sử dụng tài sản thì thiệt hại được xác
định là thu nhập thực tế bị mất.
Đối với tài sản trên thị trường có cho thuê thì thu nhập thực tế bị mất được xác định phù
hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tính
năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Trường hợp trên thị trường tài sản không có cho thuê thì thu nhập thực tế bị mất được
xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước
thời điểm xảy ra thiệt hại.
Trường hợp tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác quản lý
thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác định là
những thiệt hại được bồi thường.
Đối với các trường hợp tài sản là các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước thì phải
hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ. Đặc biệt đối với các khoản tiền vay có lãi
và không có lãi thì đều phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi hợp pháp tại thời điểm giải quyết bồi
thường. Đây là một quy định rất công bằng, khách quan nhằm bảo vệ mọi lợi ích hợp pháp của
người bị gây thiệt hại, đảm bảo tối đa nguyên tắc bồi thường công khai, kịp thời, đúng pháp
luật và đảm bảo nguyên tắc chung của Luật dân sự là thiệt hại được bồi thường toàn bộ, kịp
thời.
2.2.5. Trả lại tài sản
Theo Điều 8 Nghị quyết 388, việc trả tại tài sản được quy định chung với trường hợp xác
định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Còn theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường thiệt
hại nhà nước thì việc trả lại tài sản được quy định riêng trong Điều 50 như sau: "Tài sản bị thu
giữ, kê biên, tịch thu phải được trả lại ngay khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị
hủy bỏ". Tính kịp thời, ngay lập tức cho việc khắc phục hậu quả cho người bị gây thiệt hại
được thể hiện một cách rõ ràng. Tuy nhiên quy định pháp luật vẫn chỉ là quy định trên sách vở,
còn đối với các vụ án kiện bồi thường về tài sản thì việc trả lại những tài sản có giá trị lớn vô
cùng khó khăn và không thể giải quyết một cách triệt để.
2.2.6. Xác định thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bi oan
Đối với người bị oan thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút căn cứ vào quy định tại
Điều 46 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước gồm:
- Trường hợp người bị oan có thu nhập mà xác định được thì được bồi thường theo thu
nhập thực tế bị mất.
- Trường hợp người bị oan có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi
thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm
bị oan xảy ra.
- Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu nhập có
tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương.
Trường hợp không xác định được thu nhập thì tiền bồi thường được xác định theo mức lương
tối thiểu chung đối với cơ quan nhà nước tại thời điểm giải quyết bồi thường.
2.3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại cho người bị oan
2.3.1. Nguyên tắc bồi thường kịp thời, công khai, đúng pháp luật
Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước là buộc người gây thiệt hại phải bù
đắp, khắc phục những thiệt hại đã xảy ra cho người bị thiệt hại, do đó người gây thiệt hại phải bồi
thường những thiệt hại cho người bị thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị thiệt hại.
Khoản 1 Điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước quy định: "Kịp thời, công
khai, đúng pháp luật".
Trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung thì bồi thường "kịp thời" là không
chậm trễ, có thể người gây thiệt hại phải bồi thường ngay mà không cần chờ quyết định của
Tòa án. Ngành Tòa án cũng nên áp dụng triệt để nguyên tắc này khi giải quyết các vụ việc liên
quan đến bồi thường oan sai nhằm bảo vệ quyền và lợi ích pháp của người bị thiệt hại một
cách nhanh nhất đồng thời ngăn chặn sự dây dưa, chây ỳ không chịu bồi thường của người
gây thiệt hại.
Nguyên tắc công khai thể hiện sự bình đẳng dân chủ trong việc giải quyết bồi thường.
Công khai về cơ quan gây thiệt hại, người trực tiếp gây thiệt hại trong tố tụng hình sự, ai là
người được hưởng tiền bồi thường. Khoản tiền bồi thường thiệt hại là bao nhiêu? Phương thức
bồi thường thiệt hại được thực hiện một lần và toàn bộ hay bồi thường nhiều lần, theo định kỳ
đã xác định và số tiền bồi thường mỗi định kỳ? Sự thay đổi mức bồi thường thể hiện như thế
nào? Việc công khai hóa trong bồi thường thiệt hại thật sự quan trọng, nhằm ngăn chặn hành
vi xâm phạm đến lợi ích của người được bồi thường đồng thời cũng ngăn chặn hành vi lạm
dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước.
2.3.2. Nguyên tắc thỏa thuận, thương lượng
Nguyên tắc này bảo đảm quyền tự do định đoạt ý chí của bên bị thiệt hại và cơ quan giải
quyết bồi thường thiệt hại của nhà nước, một mặt nó bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể
trong quan hệ bồi thường nhà nước, mặt khác nhằm giải quyết thỏa đáng việc bồi thường cho
người bị thiệt hại, đồng thời cũng nhằm giảm thiểu tối đa việc khiếu nại, yêu cầu nhiều lần của
bên bị thiệt hại gây ra những hậu quả không đơn giản chỉ về mặt kinh tế. Việc yêu cầu tòa án giải
quyết tranh chấp trong việc bồi thường nhà nước theo đó giảm được sức ép của công việc và
tránh lãng phí về thời gian và chi phí của tòa án. Tòa án giải quyết tranh chấp bồi thường nhà
nước là một thủ tục tố tụng quan trọng, nhưng được hiểu biện pháp này chỉ là biện pháp cuối
cùng và không phải là duy nhất để giải quyết việc bồi thường thiệt hại của nhà nước.
2.3.3. Nguyên tắc được trả một lần bằng tiền (trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác hoặc các bên có thỏa thuận khác)
Bồi thường thiệt hại xét về bản chất là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản
như trước khi nó bị gây thiệt hại. Tài sản bị gây thiệt hại cũng được bao gồm những loại được
quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự.
Đối với những người bị oan việc chi trả khoản tiền bồi thường một lần là hết sức quan
trọng. Bởi lẽ, sau thời gian họ bị oan sai, họ không những phải chịu những tổn thất nặng nề
về tinh thần, thể xác mà những thiệt hại về vật chất cũng không thể khắc phục được hoàn
toàn. Việc họ có được một khoản tiền để chi phí cho việc hòa nhập với xã hội, tạo dựng lại
của cải vật chất cũng phần nào động viên làm giảm bớt sự "hận thù" đối với những người gây
ra oan sai cho họ.
2.3.4. Nguyên tắc xác định thiệt hại và mức bồi thường phù hợp với thực tiễn
Trong bồi thường thiệt hại nhà nước, việc căn cứ xác định mức bồi thường ngoài dựa vào
những căn cứ thực tế thì căn cứ mức lương tối thiểu nhà nước tại thời điểm giải quyết bồi
thường cũng hết sức quan trọng. Việc liên tục thay đổi mức lương tối thiểu chung cũng ảnh
hưởng không nhỏ tới quá trình giải quyết mức bồi thường cho người bị oan đặc biệt là những
vụ án kéo dài.
Dù thay đổi mức bồi thường theo hướng nào đi chăng nữa thì vấn đề mấu chốt vẫn là bảo
đảm cho sự công bằng, hợp lý cho những người yêu cầu.
2.4. Phương thức xác định thiệt hại và mức bồi thường
Khi cá nhân, tổ chức bị xâm phạm bởi hoạt động công quyền thì những thiệt hại mà họ có
thể phải gánh chịu là những thiệt hại về tài sản, những tổn thất về mặt tinh thần như uy tín,
danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm. Chính vì vậy, việc bồi thường phải tương xứng với những
thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Đối với thiệt hại về tài sản thì việc bồi thường được thực hiện
bằng tiền hoặc hoàn trả bằng hiện vật; đối với thiệt hại về tinh thần thì ngoài việc bồi thường
một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà họ phải gánh chịu thì Nhà nước còn phải có
trách nhiệm khôi phục uy tín, danh dự, nhân phẩm cho bên bị thiệt hại.
Xét về phương thức xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan phải dựa trên cả
hai phương diện, đó là khôi phục danh dự, uy tín và bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần cho
người bị oan.
Chương3
TÌNH HÌNH ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VÀ MỨC BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI BỊ OAN
TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về xác định thiệt hại và mức bồi thường cho
người bị oan
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đền bồi thường
do mức chênh lệch quá lớn giữa yêu cầu của nguyên đơn và phán quyết của Tòa án. Lý do một
phần vì người dân chưa nắm vững các quy định của pháp luật về các loại thiệt hại được bồi
thường, mặt khác là do người bị oan trong tâm lý "thừa thắng" đã đưa ra những yêu cầu bồi
thường quá đáng và không đúng với các quy định của pháp luật. Đối với những số tiền quá cao, cơ
quan trực tiếp bồi thường và người bị oan phải gặp nhau nhiều lần để tính toán, xác định, thỏa thuận
mức bồi thường và kết quả "đàm phán" thường không thành công, các cuộc thương lượng thường
đi vào "ngõ cụt". Ngay cả khi Tòa án đã xét xử, quyết định mức bồi thường thì vụ án vẫn tiếp tục
kéo dài do nguyên nhân kháng cáo. Thực trạng này rõ ràng đã đặt thêm một gánh nặng đối với
ngành Tòa án, làm phát sinh thêm chi phí của nguyên đơn nói riêng và của xã hội nói chung cho
việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Một nguyên nhân nữa khiến thương lượng ít khi đi đến kết quả là do từ trước đến nay các cơ
quan tiến hành tố tụng chỉ quen "quancân nảy mực", ít khi phải thương lượng, hòa giải, vì vậy họ
khó thông cảm đến sự khốn khổ, tan nát cửa nhà của người bị oan. Theo quy định của pháp luật,
nếu thương lượng không thành, người bị oan có quyền khởi kiện dân sự. Tuy nhiên, người khởi
kiện đa phần là "lực cùng, thế kiệt" do mắc vào vòng lao lý, cửa nhà, tài sản tiêu tan mà kiện chắc
gì đã thắng.
Một số hạn chế khác liên quan đến xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan
như: Việc khôi phục lại chức vụ đã mất, xác định thu nhập cho những người có mức sống
cao….
3.2. Thực tiễn xác định thiệt hại và mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt
động tố tụng hình sự ở Việt Nam qua một số vụ án oan điển hình.
3.2.1. Vụ án oan của các doanh nhân
Vụ án oan xuyên thế kỷ
Vụ án ông Nguyễn Đình Chiến đã khép lại với phán quyết cuối cùng minh oan cho ông
nhưng hậu quả của vụ án để lại rất nghiêm trọng, đặc biệt là việc công tác giải quyết bồi thường
thiệt hại cho ông. Về mặt nguyên tắc, việc bồi thường thiệt hại áp dụng theo các quy định tại
Nghị quyết 388 vì tại thời điểm đòi bồi thường thiệt hại thì Nghị quyết này vẫn còn có hiệu lực,
nhưng nếu căn cứ vào các quy định xác định thiệt hại và mức bồi thường chưa cụ thể rõ ràng của
Nghị quyết này và các văn bản hướng dẫn thi thành nghị quyết thì chắc chắn việc giải quyết bồi
thường trong vụ án này còn nhiều vướng mắc và còn kéo dài thời gian hơn nữa. Chính vì vậy,
nên linh động giải quyết cho phù hợp với tình hình mới và nếu có các văn bản hướng dẫn thi
hành mới có các quy định phù hợp cho giải quyết vụ án thì nên áp dụng để giải quyết một cách
triệt để. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người bị thiệt hại, đối với cơ quan tiến
hành tố tụng mà là góp phần vào công cuộc thực thi hóa Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại
nhà nước trong thực tiễn - một văn bản pháp luật đang là tâm điểm của dư luận, đồng thời lấy lại
lòng tin vào công lý cho những người bị oan khác cũng đang có hành trình tìm lại công lý, đòi lại
những tổn thất mà mình đã và đang phải gánh chịu.
Vụ án: Công ty BEMEX - Tổng Giám đốc Bạch Minh Sơn.
Năm 1988 anh về lập công ty riêng và đây cũng là công ty tư nhân đầu tiên trong cả
nước.
Sau vụ án "tam kỳ" với những thiệt hại hữu hình và vô hình ông được minh oan nhưng
khi được minh oan ông đã không làm đơn đòi bồi thường thiệt hại bởi lẽ ông cho rằng "không
dễ gì lấy lại được những gì đã mất. Vả lại, nếu có đòi được 14 tỷ đồng tài sản hữu hình thì so
với tài sản vô hình mà tôi mất đi là quá nhỏ bé. Là doanh nhân, chúng tôi chỉ có một mong
muốn là được yên ổn làm ăn, dồn tất cả tâm huyết cho kinh doanh, sản xuất. Cái mà chúng
tôi ngại nhất là dây dưa đến chốn công đường vì dù kết quả thế nào thì cuối cùng chúng tôi
cũng phải chịu phần thiệt thòi, mất mát. Về việc của mình, thôi thì tôi coi nó như một vụ tai
nạn xã hội. Cũng may là trong vụ này, không ai bị vào trong tù ngày nào"
3.2.2. Vụ án oan - bồi thường thiệt hại theo quy định Luật trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nhà nước năm 2009
Mặc dù đây không phải là vụ án oan sai có mức độ thiệt hại nghiêm trọng đối với người
bị hai về vật chất nhưng thông qua vụ án. Từ mọi góc độ nhìn nhận: luật pháp, công luận, chủ
thể mối quan hệ bồi thường thiệt hại nhà nước đã tác động không nhỏ đến thực tiễn áp dụng
pháp luật về bồi thường thiệt hại nhà nước. Nhất là vấn đề định hướng đưa Luật trách nhiệm
bồi thường thiệt hại nhà nước vào trong thực tiễn giải quyết vấn đề oan sai trong tố tụng hình
sự đang gặp nhiều khó khăn vì thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cũng qua vụ án trên, dưới góc độ nhìn nhận từ phía người tiến hành tố tụng, chúng ta có thể
thấy sự trưởng thành về mặt tư duy và ý thức chấp hành pháp luật và việc đặt vị trí của mình vào
vị trí của người bị gây thiệt hại để cảm nhận những tổn thương, mất mát của người bị hại để đi
đến quyết định đúng đắn, thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chính họ gây ra đối với
công dân.
3.3. Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về xác định thiệt hại và
mức bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam
Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước ra đời đánh dấu bước phát triển mới của
quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Công chức nhà nước khi thực
hiện công vụ được luật hành chính giao cho uy thế của quyền lực, người dân có nghĩa vụ phải
phục tùng nhưng không có nghĩa là có quyền sử dụng quyền lực ấy một cách tùy tiện theo
xúc cảm cá nhân. Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước, về mặt pháp lý, chính là
pháp điển hóa chế tài dân sự (về tài sản) đối với những cá nhân lạm dụng công vụ mà gây
thiệt hại cho người dân. Từ nay, người dân có một công cụ pháp lý cơ bản để buộc người thi
hành công vụ phải bồi thường thiệt hại do người đó gây ra.
Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 nhưng đến nay vẫn chưa thể đi vào
cuộc sống bởi còn thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành. Do vậy dẫu biết là nó đặt dấu chấm
hết cho quá khứ đùn đẩy trách nhiệm bồi thường, hiện thực hóa những thiệt hại được bồi
thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Điều đáng nói là luật đã thiết
lập được cầu nối giữa Luật này và Luật khiếu nại, tố cáo, qua đó làm rõ hơn nguyên tắc phải
có một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái
pháp luật do công chức gây ra là căn cứ để yêu cầu bồi thường.
Một lo ngại nữa cũng rất thực tế, nếu xem xét, cả luật, nghị định rồi đến thông tư hướng
dẫn, có thể thấy có đến hàng trăm điều khoản. Chính "rừng" quy định này cũng đủ để khiến
luật khó thực thi. Trong khi đó, cũng điều luật tương tự, tại Nhật Bản chỉ gói gọn trong 6
điều. Tuy cũng có ý kiến cho rằng, luật được triển khai chậm không quan trọng bằng việc
được triển khai thế nào?
Thực thi thế nào cũng là câu hỏi khiến luật gia này trăn trở. Bởi để thực thi được luật đòi
hỏi bước chuẩn bị và những đầu tư đồng bộ về con người, bộ máy cũng như khả năng tài
chính. Trong khi sức chịu đựng về tài chính cho đền bù oan sai của Nhà nước có hạn, thì cần
phải xây dựng, phát triển đội ngũ và cơ quan quản lý vận hành cho tốt, hạn chế tối đa những
oan sai. Bản thân Nhà nước, cơ quan quản lý phải có bước chuẩn bị, nhưng dường như điều
này chưa được chú trọng đúng mức. Đây mới là chìa khóa quyết định thành công của Luật.
Thêm nữa, khi đã có Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước thì cũng cần sớm hoàn
thiện Luật Khiếu nại tố cáo. Không sửa đổi cơ bản luật này, thì luật mới ra cũng không khả
thi.
KẾT LUẬN
Với nỗ lực xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao
trách nhiệm của cán bộ, công chức cũng như giúp công dân có niềm tin vào công lý. Qua những
vướng mắc đang gặp phải trong quá trình thực thi hóa các quy định của pháp luật về xác định thiệt
hại và mức bồi thường cho người bị oan cũng như cho người bị thiệt hại nói chung, tác giả cũng
mạnh dạn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về vấn đề
này.
Thứ nhất, cần ban hành ngay các văn bản hướng dẫn thi hành Luật trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nhà nước;
Thứ hai, khi ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nên dựa trên tinh thần chi tiết hóa
từng nội dung, điều này sẽ giúp các cơ quan chức năng khi giải quyết vụ việc được thuận lợi,
nhanh chóng, hợp lý hơn. Ví dụ như khi chi tiết hóa các quy định về vấn đề xác định các thiệt hại
và mức bồi thường cần tính đến sự phát triển của xã hội, tình hình kinh tế chung hiện tại và cũng
cần phải tính đến địa vị xã hội, nghề nghiệp liên quan đến mức sống của người bị thiệt hại (người
bị oan).
Thứ ba, cho dù Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước mới có hiệu lực gần 01
năm nay và cũng chưa áp dụng nhiều cho giải quyết các vụ việc trong thực tiễn nhưng qua
tìm hiểu, đánh giá, phân tích, tác giả cũng thấy rất nhiều quy định cần rà soát lại để điều
chỉnh cho phù hợp với thực tiễn hơn đặc biệt là phù hợp với các quy định của các chế định
luật khác có liên quan như: Luật bảo hiểm trong vấn đề mai táng cho người bị thiệt hại chết
cần xác định rõ thế nào là các quy định về mai táng theo quy định của bảo hiểm xã hội? hay
các quy định liên quan đến Luật Ngân hàng trong trường hợp tài khoản, tiền của người bị gây
thiệt hại bị phong tỏa…. Nếu tất cả những vướng mắc trên của Luật trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nhà nước đều được khắc phục, điều chỉnh kịp thời thì chúng ta tin rằng trong tương
lai đây sẽ là một văn bản đem lại lòng tin vào công lý cho nhân dân góp phần vào công cuộc
tìm lại công bằng cho xã hội.
References
1. Lê Mai Anh (1997), Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng trong Bộ luật dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Lê Mai Anh (2002), Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành
tố tụng gây ra, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
3. Lê Mai Anh (2004), Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành
tố tụng gây ra, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
4. Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2004), Kỷ yếu các
Tọa đàm tổ chức tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án Jica giai đoạn 2000 - 2003, Hà
Nội.
5. TS. Nguyễn Ngọc Chí (2010), "Hoàn thiện pháp luật về minh oan và bồi thường thiệt hại
cho người bị oan trong hoạt động Tố tụng hình sự", Dân chủ và pháp luật, (5).
6. Christian A. Brendel (2006), Luật và chính sách về trách nhiệm nhà nước ở Cộng hòa Liên
bang Đức, trách nhiệm pháp lý của Nhà nước Đức.
7. Chính phủ (1997), Nghị định số 47/NĐ-CP ngày 03/5 về việc giải quyết bồi thường thiệt
hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố
tụng gây ra, Hà Nội.
8. Nguyễn Đăng Dung (2006), "Bồi thường thiệt hại của lập pháp", Hội thảo: Pháp luật và
chính sách về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Hà
Nội.
9. Bùi Kiên Điện (2007), "Khắc phục tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự", Luật học,
(7).
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị về
một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà
Nội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét