Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
3
DANH MỤC MỤC BẢNG
Bảng 1. Lý do người LĐDC ra Hà Nội làm việc (%) 20
Bảng 2. Giới và hình thức di cư (%) 21
Bảng 3. Nguồn thông tin tìm việc làm của LĐDC (%) 26
Bảng 4. Nghề nghiệp, việc làm của nam và nữ LĐDC (%) 26
Bảng 5. Thời gian làm việc trung bình trong ngày và trong tuần 28
Bảng 6. Thu nhập trung bình năm 2009 (1.000 VND) 29
Bảng 7. Thời gian trung bình mỗi ngày dành cho các hoạt động giải trí 33
Bảng 8. Tình trạng hôn nhân và áp lực kiếm tiền (%) 36
Bảng 9. Mức thu nhập, chi tiêu trung bình 1 tháng của nam và nữ (1.000 VND) 40
Bảng 10. Kế hoạch gửi tiền về quê của LĐDC (%) 42
Bảng 11. Tỉ lệ LĐDC có gửi tiền ở ngân hàng 12 tháng qua (%) 45
Bảng 12. Lý do không lựa chọn dịch vụ được đánh giá là an toàn (%) 49
Bảng 13. Nguồn thông tin chung về chuyển tiền (%) 50
Bảng 14. Quản lý nguồn tiền chuyển về tại HGĐ nông thôn (%) 52
Bảng 15. Những tài sản có giá trị của hộ gia đình nông thôn (%) 55
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
4
CHỮ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á
FAO
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HCMA
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
IOM
Tổ chức Di cư Quốc tế
IOS
Viện Xã hội học
JPGE
Chương trình chung về Bình đẳng giới
LĐDC
Lao động di cư
MARD
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
MPI
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
PVS
Phỏng vấn sâu
TCTK
Tổng cục Thống kê Việt Nam
TLN
Thảo luận nhóm tập trung
UN
Liên Hợp Quốc
UNAIDS
Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS
UNDP
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc
UNFPA
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
UNICEF
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
UNIDO
Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc
UNIFEM
Quỹ Phát triển Phụ nữ Liên Hợp Quốc
UNODC
Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm Liên Hợp Quốc
USD
Đô la Mỹ
VASS
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
VND
Đồng Việt Nam
WB
Ngân hàng Thế giới
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
5
LỜI NÓI ĐẦU
Nghiên cứu này là một phần của Chương trình chung về Bình đẳng giới, được phối hợp thực hiện
bởi Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (JPGE), với sự hỗ trợ tài chính từ Quỹ
Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Tây Ban Nha. Tổng cục Thống kê (TCTK), với sự hỗ trợ kỹ
thuật của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) Việt Nam, đã chủ trì thực hiện nghiên cứu này.
Trước tiên, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn 600 lao động di cư (LĐDC) ra Hà Nội đã chấp thuận
tham gia trả lời phỏng vấn bằng bảng hỏi. Cảm ơn 152 LĐDC tham gia trả lời phỏng vấn sâu và
thảo luận nhóm, giúp nghiên cứu có thêm nhiều thông tin chiều sâu hữu ích.
Với những kết quả đạt được, chúng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đặc biệt và trân trọng nhất tới bà Trần
Nguyệt Minh Thu, cán bộ nghiên cứu của Viện Xã hội học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tư
vấn và là người đã viết cuốn sách này. Ngoài ra, xin gửi lời cảm ơn tới ông Đào Thế Sơn, cán bộ
nghiên cứu thuộc Trung tâm Kinh tế và Phát triển Cộng đồng, thành viên nhóm tư vấn trong giai
đoạn điều tra thực địa.
Về phía Tổng cục Thống kê, xin trân trọng cảm ơn sự cộng tác của ông Đỗ Anh Kiếm, Phó Vụ
trưởng, ông Nguyễn Phong, Vụ trưởng Vụ Thống kê XHMT kiêm Giám đốc đại diện TCTK trong
dự án thành phần của JPGE, người đã có những hỗ trợ quan trọng cho thành công của nghiên cứu
này. Cảm ơn bà Nguyễn Thị Việt Nga, chuyên viên Vụ thống kê XHMT - TCTK, dự án thành phần
của JPGE đã có những đóng góp quan trọng trong suốt quá trình thực hiện cũng như phổ biến kết
quả nghiên cứu. Chúng tôi cũng đã nhận được ý kiến đóng góp quý báu của ông Lê Văn Dụy về
phương pháp chọn mẫu.
Về phía Tổ chức Di cư Quốc tế tại Việt Nam, ông Jobst Koehler Cán bộ Phát triển Chương trình
Cấp cao, bà Đặng Thúy Hạnh và bà Saskia Blume, cán bộ Dự án đã tham gia giám sát để cuộc
nghiên cứu đạt chất lượng cao. Bà Saskia Blume cũng đã có những góp ý quan trọng cho dự thảo
và báo cáo cuối cùng.
Trân trọng cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của 17 điều tra viên đến từ Tổng cục Thống kê và Viện
Xã hội học, cũng như những thành viên khác đã tham gia khảo sát thực địa, thu thập thông tin.
Chúng tôi cũng xin được cảm ơn sự công tác và hỗ trợ của các cán bộ tại 3 quận, phường được lựa
chọn khảo sát.
JPGE hướng tới việc tăng cường sự hợp tác không chỉ giữa Chính phủ Việt Nam và LHQ mà còn
giữa các tổ chức của LHQ, trong khuôn khổ của quá trình cải cách Một Liên Hợp Quốc. Sự hỗ trợ,
đặc biệt là những ý kiến nhận xét của các tổ chức khác nhau trong LHQ cho dự thảo báo cáo và sự
cộng tác trong nhóm các dự án thành phần JPGE là những đóng góp vô giá cho cuộc nghiên cứu,
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng báo cáo. Chúng tôi cũng muốn đặc biệt cảm
ơn những đóng góp của ông Deepa, Giám đốc Chương trình di cư khu vực của UN Women, bà Vũ
Phương Ly cán bộ cao cấp của UN Women, bà Aya Matsuura chuyên gia Giới của JPGE, ông Tom
Tanhchareun cán bộ chính sách, cũng như phòng truyền thông của LHQ.
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
6
TÓM TẮT
Từ cải cách kinh tế của Việt Nam năm 1986, di cư lao động trong nước, quốc tế và tiền chuyển
về đã trở thành chiến lược đa dạng hóa sinh kế cho nhiều hộ gia đình cũng như cộng đồng nông
thôn. Giới được xem là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ tới di cư và tiền chuyển
về qua: Những quyết định di cư, nơi đi, lý do, hình thức di cư. Giới cũng ảnh hưởng tới số lượng
và tần suất chuyển tiền của người lao động, cách thức đầu tư hoặc sử dụng nguồn tiền chuyển về,
khả năng đóng góp cho hộ gia đình và phát triển cộng đồng nông thôn. Mặc dù các dòng di cư vẫn
ngày càng gia tăng, Chính phủ và nhiều cơ quan nghiên cứu đã dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn
đề di cư, tiền chuyển về và sự phát triển, song vẫn còn ít nghiên cứu về vấn đề này sử dụng cách
tiếp cận giới. Có một số nghiên cứu về ảnh hưởng giới tới hành vi chuyển tiền và nhận tiền đã công
bố (ADB, INSTRAW, IOM và WB), song chưa có nghiên cứu nào được thực hiện dựa trên việc
thu thập và khảo sát số liệu thực tế về những khác biệt giới trong hành vi chuyển tiền, lựa chọn,
sử dụng các kênh quản lý và chuyển tiền của nhóm những người di cư trong nước Việt Nam nói
chung và tới thủ đô Hà Nội nói riêng
Xuất phát từ cách tiếp cận giới, nghiên cứu này hướng vào tìm hiểu khác biệt giới trong khả năng
gửi tiền, khác biệt giới trong thu nhập và quản lý nguồn tiền tiết kiệm của LĐDC, khác biệt giới
trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chuyển tiền, mối quan hệ giới trong việc quản lý và sử
dụng nguồn tiền chuyển về tại hộ gia đình nơi đi. Những phát hiện của nghiên cứu dựa trên thông
tin thu thập được từ: 600 bảng hỏi phỏng vấn dành cho nam nữ LĐDC vào thành phố, 42 cuộc
phỏng vấn sâu, 12 cuộc thảo luận nhóm. Quá trình thu thập thông tin được thực hiện trong khoảng
thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2010 tại ba phường thuộc ba quận nội thành Hà Nội. Nghiên
cứu này cung cấp những dữ liệu cần thiết hỗ trợ cho sự phát triển của các chương trình và chính
sách nhạy cảm giới. Mục tiêu nghiên cứu nhằm thúc đẩy tiềm năng và tối đa hóa nguồn tiền chuyển
về trong nước, tại mỗi gia đình và cộng đồng, đóng góp cho những chương trình và chính sách phát
triển kinh tế - xã hội nhạy cảm giới của nông thôn Việt Nam.
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội
Người lao động trong mẫu khảo sát có tuổi đời tương đối trẻ, tuổi trung bình của nhóm nam là 30
và nữ là 34. Về học vấn, nhóm lao động nữ có trình độ thấp hơn, với số nữ chỉ học đến trung học
cơ sở cao gần gấp đôi nhóm nam (31,7% so với 17,2%). Về tình trạng hôn nhân, hơn nửa số LĐDC
trong mẫu phỏng vấn đã kết hôn, trong đó 66,7% nữ và 52,8% là nam giới. Nhóm lao động nữ đã
kết hôn di cư một mình chiếm tỷ lệ lớn nhất với 26%, những cặp vợ chồng đã kết hôn và cùng ra
thành phố chiếm 15,5%. Về tình trạng cư trú, trong nhóm tạm trú không ổn định, nữ giới có tỷ lệ
lớn hơn nam (80,5% so với 73,3%). Trong lựa chọn việc làm, hơn 66% phụ nữ chọn công việc lao
động giản đơn trong khi đó nhóm nam lựa chọn công việc này chỉ chiếm 1/3. Kết quả phỏng vấn
cũng cho thấy công việc của nhóm lao động nữ từ nông thôn ra thành phố có xu hướng ít thay đổi
hơn bởi nữ giới rất ngại những sự thay đổi. Ngược lại, nam giới thường tìm kiếm những công việc
có thu nhập cao hơn, thay đổi công việc thường xuyên hơn, nhiều trường hợp tự làm chủ sau một
quá trình lao động tích lũy vốn.
Các mối quan hệ xã hội có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và cung cấp cơ hội việc làm cho
những người lao động từ nông thôn ra thành phố không phân biệt nam, nữ. Bạn bè, đồng nghiệp,
đồng hương là những thành viên chính trong mạng lưới này, họ đã thực hiện có hiệu quả vai trò
hỗ trợ cho 81,1% nam và 84,3% nữ trong mẫu khảo sát. Trong đó 35,7% nữ và 32,7% nam nhận
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
7
được sự hỗ trợ từ họ hàng, 17,5% nữ và 11,2% nam nhận được sự hỗ trợ từ hộ gia đình nơi đi. Nhìn
chung, nữ giới có nhu cầu được hỗ trợ và cũng tìm kiếm những nguồn hỗ trợ từ các mối quan hệ
xã hội đa dạng hơn so với nam giới và cũng chỉ có 2,6% lao động nữ nói rằng họ không cần tới sự
trợ giúp này. Đồng hương, bạn bè và người cùng trọ là nguồn cung cấp thông tin việc làm quan
trọng cho 66,7% lao động nữ, với nhóm nam là 59,1%. Song cũng có tới hơn 40% LĐDC cho biết
họ đã tự xoay xở và tìm kiếm được công việc ngay khi ra thành phố mà chưa cần tới sự hỗ trợ từ
các mối quan hệ xã hội sẵn có.
Liên quan tới tần suất di cư, số liệu khảo sát cho thấy nhóm LĐDC đã kết hôn về thăm nhà thường
xuyên hơn nhóm chưa kết hôn. Trên bình diện giới, nhóm lao động nữ có tần suất đi về nhiều hơn
với mức trung bình là 8,4 lần so với 7,4 lần của nam trong năm 2009. Tham dự các lễ ma chay,
cưới hỏi là lý do được lựa chọn nhiều nhất trong các lý do về thăm nhà của cả nam (64,7%) và nữ
(70,9%). Điều này phản ánh tính cố kết của cộng đồng nông thôn Việt Nam với những mối quan hệ
họ hàng, làng xã rất gần gũi thân thiết. Trong việc chung này, nữ giới thường phải dành thời gian
nhiều hơn do tham gia vào công tác chuẩn bị, bếp núc, hậu cần.
Khác biệt giới trong thu nhập, chi tiêu và khả năng gửi tiền
Cả nam và nữ trong mẫu phỏng vấn đều phải đối mặt với nhiều khó khăn trong suốt quá trình
LĐDC, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng họ kiếm tiền và gửi về cho gia đình.
Những chia sẻ này được nhóm nữ lao động giản đơn đề cập tới nhiều nhất. Lý do chính để nhóm
lao động nữ lựa chọn công việc lao động giản đơn là sự chủ động về thời gian để vừa sắp xếp được
công việc nhà, vừa có thể làm việc kiếm tiền. Nhu cầu đi về thường xuyên làm tăng thêm sự khó
khăn cho những phụ nữ muốn tiếp cận và tìm kiếm một công việc lâu bền, ổn định.
Mặc dù thời gian làm việc trong ngày và số ngày làm việc trong tuần của nam và nữ tương đối
giống nhau, song nhóm lao động nữ vẫn có mức thu nhập thấp hơn với 21 triệu mỗi năm, trong khi
nhóm nam có mức thu nhập trung bình năm là 32 triệu/năm. So với khi còn sống ở nông thôn, nhu
cầu chi tiêu ở thành phố của cả nam và nữ đều nhiều hơn hẳn và trên thực tế nhóm lao động nam
có mức chi tiêu cao hơn nữ. Với mức chi tiêu 1 triệu đồng/người/tháng ở thành phố, nếu so với
thu nhập trung bình khoảng 2,3 triệu mỗi tháng thì một người lên thành phố làm, một tháng sẽ tiết
kiệm được ít nhất là 1 triệu đồng, nếu có kế hoạch chi tiêu tiết kiệm thì số tiền tiết kiệm được có
thể sẽ còn cao hơn. Phụ nữ chi tiêu tiết kiệm hơn, họ thường giảm thiểu chi phí ăn uống và không
có nhu cầu sử dụng tiền cho giải trí. Kết quả khảo sát cho thấy, phụ nữ LĐDC có lượng thời gian
nghỉ ngơi trung bình thấp hơn nam. Phần đông nữ thuộc nhóm lao động giản đơn nên họ ít điều
kiện tiếp cận với những phương tiện truyền thông hiện đại, do đó lượng thông tin xã hội và những
vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền lợi của họ nhiều khi cũng bị bỏ qua.
Nhiệm vụ hỗ trợ tài chính cho gia đình khiến mỗi người lao động phải chịu những áp lực khác
nhau trong việc kiếm và gửi tiền: Nhóm đã kết hôn phải chịu áp lực nhiều hơn nhóm chưa kết hôn;
người lao động xuất thân từ gia đình nghèo bị áp lực hơn những gia đình khác; nữ giới cảm thấy
phải chịu áp lực kiếm tiền cao hơn nam, trường hợp họ là người kiếm tiền duy nhất hoặc quan
trọng nhất - nhóm phụ nữ cảm thấy áp lực cao gần gấp đôi so với nam giới (32% nam so với 17,5%
nữ). Phụ nữ ly thân và góa là nhóm chịu áp lực kiếm tiền lớn nhất trên toàn bộ mẫu khảo sát. Nữ
giới thường xuyên gửi tiền về nhà hơn nam với tần suất trung bình hàng năm là 9 lần, nam là 7 lần.
Theo tiêu chí nghề, nhóm lao động giản đơn có tần suất gửi tiền về quê nhiều nhất. Đã có hơn nửa
số LĐDC đạt được mục tiêu đặt ra về mức tiền chuyển về. Mức tiền chuyển về trung bình hàng
năm của LĐDC vẫn không ngừng tăng cao, đạt xấp xỉ 12 triệu đồng vào năm 2009.
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
8
Khác biệt giới trong tiếp cận và sử dụng các kênh giữ tiền và chuyển tiền
Chỉ có gần một nửa số LĐDC gồm cả nam và nữ cho biết họ có kế hoạch cụ thể cũng như đưa ra
định mức số tiền cần kiếm - trong số đó, tỉ lệ phụ nữ đạt được định mức cao hơn nam giới. Nhóm
không đưa ra được định mức tiền cần có hầu hết là những người không thể tính toán được mức thu
nhập và chi tiêu của họ. Lý do khó tính toán được mức tiền tiết kiệm của nhóm lao động nam và
nữ tương đối khác nhau. Với nhóm nam, đó là sự không xác định được mức chi cho việc uống bia,
mời bạn bè ăn nhậu trong mỗi tháng. Đối với một bộ phận phụ nữ, đó là sự không xác định được
mức thu do những thay đổi trong tần suất về quê, tháng ít tháng nhiều.
Với số tiền tiết kiệm có được, đến 3/4 số LĐDC cho biết họ thường tự cất giữ, song chỉ 1/3 trên
tổng số mẫu đánh giá việc tự cất giữ tiền là an toàn nhất. Tỉ lệ nữ chọn cách tự cất giữ tiền rất lớn
và họ hầu như không sử dụng tới dịch vụ ngân hàng, mặc dù họ có tần suất bị mất tiền trung bình
cao hơn nam giới. 86% cho biết họ không chọn cách gửi tiền vào ngân hàng vì số tiền họ tiết kiệm
được quá nhỏ. Việc lựa chọn ngân hàng để gửi tiền có mối quan hệ tỉ lệ thuận với trình độ học vấn
và tỉ lệ nghịch với độ tuổi, học vấn càng cao thì tần suất sử dụng dịch vụ ngân hàng càng lớn, độ
tuổi càng lớn thì tỉ lệ sử dụng dịch vụ ngân hàng càng thấp.
Ngoài ra, cũng có sự khác biệt đáng kể giữa nhận thức về sự an toàn của các dịch vụ chuyển tiền
và thực tế sử dụng dịch vụ. Hơn một nửa số LĐDC cho biết họ không nhận được bất cứ thông tin
gì về dịch vụ giữ tiền và chuyển tiền từ ngân hàng, những thông tin mà họ biết thường là qua bạn
bè cung cấp. So với nhóm nữ, nam giới thường độc lập hơn trong việc tìm kiếm và tiếp cận thông
tin dịch vụ giữ tiền, chuyển tiền.
Giới và việc quản lý, sử dụng tiền tại hộ gia đình nông thôn nơi đi
Tình trạng hôn nhân của LĐDC là yếu tố quyết định chính tới việc lựa chọn thành viên quản lý
và sử dụng nguồn tiền chuyển về tại hộ gia đình nông thôn. Hầu hết những trường hợp chưa kết
hôn, cả nam và nữ thường gửi tiền cho cha mẹ quản lý. Người đã kết hôn, phần lớn vợ chồng của
họ sẽ là những người nhận và quản lý tiền tại quê nhà. Tuy nhiên, cũng có 11,7% lao động nam đã
kết hôn di cư một mình lại gửi tiền cho cha mẹ quản lý và sử dụng chứ không phải cho vợ. Trong
tình huống ngược lại, chỉ có 1,9% phụ nữ không gửi tiền về cho chồng mà lại gửi cha mẹ quản lý.
Thông tin phỏng vấn cho thấy, phần đông nam giới vẫn là người quyết định cuối cùng trong việc
mua sắm những đồ dùng đắt tiền hoặc họ sẽ trực tiếp quản lý tiền trong gia đình.
Theo quan niệm truyền thống, phụ nữ sau khi kết hôn sẽ chính thức trở thành thành viên của gia
đình nhà chồng, do đó trong số các cặp vợ chồng cùng ra thành phố lao động kiếm sống, có khoảng
3/4 LĐDC là nam cho biết họ thường gửi tiền về cho cha, mẹ đẻ của họ chi tiêu và cất giữ, số
LĐDC là nữ gửi tiền cho cha, mẹ đẻ chỉ chiếm khoảng 1/4, số nữ còn lại cũng gửi tiền cho cha,
mẹ chồng chi tiêu và giữ hộ. Đáng chú ý, với nhóm LĐDC là nữ, 20% cho biết vai trò quản lý tiền
trong gia đình thuộc về người chồng, với LĐDC là nam không có ý kiến nào cho rằng vai trò quản
lý tiền trong gia đình họ thuộc về người vợ. Tuy nhiên, có 58% cả nữ và nam cho biết họ nhận thấy
những cải thiện trong vai trò và quyền lực của bản thân đối với gia đình do những đóng góp kinh
tế mà họ mang lại. Hầu như tất cả những người được phỏng vấn đều cho biết điều kiện sống của
gia đình họ đã tốt hơn trước.
Có 82% lao động cho biết gia đình họ đã dùng toàn bộ hoặc một phần số tiền chuyển về để trang
trải cho những chi tiêu hàng ngày của gia đình và chỉ có 5% số hộ gia đình sử dụng số tiền đó đầu
tư cho sản xuất kinh doanh. Tiền chuyển về cũng có vai trò to lớn trong việc đảm bảo chi tiêu cho
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
9
giáo dục (hơn 40%), chăm sóc sức khỏe, trả nợ, sắm đồ, kiến thiết nhà cửa và mua sắm công cụ
sản xuất.
Một số đề xuất:
1) Tạo cơ hội cho người lao động nhằm tối đa hóa lợi ích di cư
- Khuyến khích dịch vụ nhà cho thuê hợp pháp, đủ tiêu chuẩn, không gây ảnh hưởng tới sức khỏe
của người lao động và sức khỏe sinh sản của lao động nữ. Gắn trách nhiệm và nâng cao ý thức của
chủ trọ trong việc khai báo tạm trú cho người thuê trọ cũng như tăng cường an ninh tài sản cho
người thuê trọ. Tạo điều kiện để người LĐDC được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ khi sống và
làm việc tại thành phố.
2) Cung cấp thông tin cho người lao động
- Xây dựng cơ chế phổ biến thông tin nhạy cảm giới có thể thông qua: Cơ hội việc làm, dạy nghề,
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sức khoẻ sinh sản, dịch vụ tư vấn xã hội về tiết kiệm hoặc đầu
tư nguồn tiền chuyển về, thông tin trên các kênh gửi tiền.
- Phổ biến thông tin về quyền và nghĩa vụ của người lao động, khuyến khích việc ký kết hợp đồng
lao động.
- Tăng cường thông tin tới cộng đồng về tiền chuyển về.
3) Tăng cường tiếp cận với các dịch vụ giữ tiền và chuyển tiền
- Ngân hàng nên có chính sách ưu đãi, giảm phí chuyển tiền, cung cấp nhiều lựa chọn với các dịch
vụ giữ tiền, chuyển tiền khác nhau nhằm tối đa hóa tiềm năng tiền gửi.
- Ngân hàng nên có chương trình đào tạo và tập huấn thường xuyên cho đội ngũ nhân viên để tăng
cường khả năng tiếp cận với nhóm LĐDC đặc biệt là phụ nữ, những người có trình độ học vấn hạn
chế và hầu như chưa quen thuộc với việc khai báo và thực hiện các thủ tục bằng văn bản, giấy tờ.
- Khuyến khích gửi tiền tiết kiệm tại các kênh chính thức để vừa đảm bảo lợi ích cho người lao
động, vừa đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia.
- Mở rộng dịch vụ ngân hàng ở nông thôn tạo sự thuận tiện khi sử dụng dịch vụ chuyển tiền tại
ngân hàng. Cung cấp thông tin về vị trí của mỗi ngân hàng, bưu điện, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn.
4) Sử dụng bền vững nguồn tiền chuyển về
- Khuyến khích và ủng hộ những sáng kiến đầu tư với mục đích phát triển cộng đồng nông thôn,
ví dụ đầu tư cho kinh doanh hoặc giáo dục.
- Đảm bảo sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc sử dụng tiền
chuyển về.
- Hỗ trợ nam nữ LĐDC trở về qua việc nâng cao trình độ học vấn hoặc đào tạo kỹ năng kinh doanh
cho họ giúp tối đa hóa lợi ích nguồn tiền kiếm được.
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
10
1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Di cư, giới và tiền chuyển về
Tiền chuyển về là chỉ báo quan trọng, có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề di cư lao động và tiến
bộ xã hội. Vai trò của tiền chuyển về là vấn đề luôn được Chính phủ Việt Nam cũng như các tổ
chức phát triển quan tâm, đánh giá cao, dành thời gian nghiên cứu trong công cuộc phát triển và
giảm nghèo.
Vào những năm 1980, quá trình di dân ở Việt Nam vẫn chủ yếu là di dân theo kế hoạch. Sự đổi mới
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước đã thực sự thúc đẩy quá trình di dân trong nước và quốc tế
ngày càng phát triển về quy mô cũng như số lượng. Đến thời điểm hiện tại, nguồn tiền chuyển về
từ những nỗ lực di dân làm kinh tế đã trở thành nguồn thu không thể thiếu trong chiến lược sinh
kế của nhiều hộ gia đình và cộng đồng nông thôn. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, tổng số
tiền chuyển từ nước ngoài về trong năm 2006 là 4,8 tỉ đô la Mỹ, khoản tiền này chiếm 8% GDP
quốc gia trong năm 2007. Tỷ lệ tiền chuyển về trong nước ít được nghiên cứu hơn, tuy nhiên vào
năm 2004, những thông tin từ cuộc khảo sát về di dân ở Việt Nam đã chỉ ra rằng có hơn 50% những
trường hợp di dân nội địa có gửi tiền về cho gia đình và nguồn tiền gửi trong nước ngày càng tăng
với tốc độ nhanh hơn so với kiều hối. Nguồn tiền trong nước phần lớn là từ đô thị về nông thôn.
Đối với nhiều hộ gia đình nông thôn đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung bộ,
ra Hà Nội kiếm sống được xem như chiến lược sinh kế quan trọng.
Việt Nam hai thập kỷ qua cũng đánh dấu sự gia tăng đáng kể của phụ nữ trong các dòng di cư. Uớc
tính khoảng 30% lực lượng LĐDC quốc tế là phụ nữ, với nhóm trong nước, phụ nữ chiếm hơn 50%
(Dương 2008). Đóng góp của họ trong việc duy trì và phát triển hộ gia đình nông thôn thông qua
nguồn tiền chuyển về được đánh giá là quan trọng.
Giới được xem là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ tới di cư và tiền chuyển về qua:
Những quyết định di cư, nơi đi, lý do, hình thức di cư. Giới cũng ảnh hưởng tới số lượng và tần
suất chuyển tiền của người lao động, cách thức đầu tư hoặc sử dụng nguồn tiền chuyển về, khả
năng đóng góp cho hộ gia đình và phát triển cộng đồng nông thôn.
Những nghiên cứu với mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa tiền chuyển về và sự phát triển sẽ trở nên
sâu sắc hơn khi được phân tích trên bình diện giới, nhu cầu phát triển kinh tế thúc đẩy lao động nữ
di cư, khiến họ sẵn sàng hy sinh vì lợi ích gia đình. Có một số nghiên cứu về tương quan giới với
hành vi chuyển tiền, nhận tiền đã công bố (ADB, INSTRAW, IOM và WB), song chưa có nghiên
cứu nào được thực hiện dựa trên việc thu thập và khảo sát số liệu thực tế về những khác biệt giới
trong hành vi chuyển tiền, lựa chọn, sử dụng các kênh quản lý và chuyển tiền của nhóm những
người di cư trong nước Việt Nam nói chung và tới thủ đô Hà Nội nói riêng. Nghiên cứu này sẽ
cung cấp số liệu thực tế cần thiết, đóng góp vào việc phát triển những chương trình và chính sách
nhạy cảm giới.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Triển khai nghiên cứu tiền chuyển về của LĐDC có sử dụng cách tiếp cận giới nhằm góp phần
thu hẹp khoảng cách cũng như cung cấp dữ liệu cần thiết cho những chương trình phát triển và
chính sách nhạy cảm giới. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu sự khác biệt giới trong khả
năng gửi tiền; cách thức quản lý thu nhập và chi tiêu; tiếp cận và sử dụng các kênh quản lý tiền
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
11
và chuyển tiền tại nơi đến cũng như tìm hiểu vai trò giới trong việc quản lý và sử dụng nguồn tiền
chuyển về tại nơi đi, với mục tiêu thúc đẩy tiềm năng nguồn tiền chuyển về trong nội bộ quốc gia,
đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam, cung cấp thông tin nhằm hỗ trợ
cho những chương trình và chính sách có liên quan.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
Dữ liệu được xác định và thu thập từ hai nguồn chính là dữ liệu thứ cấp và dữ liệu từ điều tra thực
địa. Cuộc khảo sát sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính.
· Phương pháp nghiên cứu định lượng: Được thực hiện với bảng hỏi dành cho LĐDC tới
Hà Nội, số liệu khảo sát được phân tích theo những lát cắt khác nhau như: giới, nghề, tuổi,
học vấn v.v…
· Phương pháp nghiên cứu định tính: Gồm PVS và TLN với 5 bộ tài liệu: (1) tài liệu hướng
dẫn phỏng vấn sâu LĐDC; (2) tài liệu hướng dẫn thảo luận nhóm LĐDC; (3) tài liệu hướng dẫn
phỏng vấn sâu người cho thuê nhà; (4) tài liệu hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ địa phương;
(5) tài liệu hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ chuyên trách.
Cuộc khảo sát được thực hiện tại ba quận Hoàng Mai, Đống Đa và Ba Đình của thành phố Hà Nội.
Theo sự bàn bạc trao đổi giữa IOM, TCTK và nhóm tư vấn, để tiết kiệm thời gian, kinh phí và
thuận tiện cho quá trình khảo sát điều tra, tại mỗi quận chọn một phường khảo sát. Phường khảo
sát là địa bàn có đông LĐDC với những loại hình nghề nghiệp đa dạng, được cán bộ tại địa phương
chấp nhận. Ba phường được chọn là phường Hoàng Liệt thuộc quận Hoàng Mai; phường Ô Chợ
Dừa thuộc quận Đống Đa, phường Đội Cấn thuộc quận Ba Đình.
Mẫu phỏng vấn được lựa trọng ngẫu nhiên từ danh sách tạm trú tại mỗi địa bàn do công an hộ khẩu
cung cấp. Việc chọn mẫu định tính cũng cố gắng đảm bảo sự cân bằng về giới, đa dạng về tuổi và
nghề nghiệp, ngoài ra còn tính đến những tiêu chí khác như học vấn, hôn nhân, quê quán, hoàn
cảnh gia đình v.v
Trong quá trình tiếp cận thực tế, việc thu thập thông tin bảng hỏi, tìm hiểu tài liệu, phỏng vấn sâu,
thảo luận theo nhóm cộng đồng kết hợp với quan sát được tiến hành một cách linh hoạt và đan xen
nhau. Thông tin và kết quả nghiên cứu của những dự án đã thực hiện có liên quan là nguồn tư liệu
tham khảo bổ ích. Bên cạnh đó, sự tham gia ý kiến của các chuyên gia và các thành viên dự án
trong suốt quá trình thực hiện là sự đóng góp quan trọng cho thành công của báo cáo này.
Đội ngũ điều tra viên là những cán bộ công tác tại Tổng cục Thống kê và Viện Xã hội học thuộc
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, có trình độ văn hóa từ đại học trở lên, có nhiều kỹ năng và kinh
nghiệm làm việc. Bảng hỏi và tài liệu phỏng vấn sâu được tập huấn tỉ mỉ. Bên cạnh đó, điều tra
viên có cơ hội được thực hành, đưa ra những câu hỏi và đóng góp ý kiến cho bảng hỏi trước khi
tiến hành khảo sát chính thức. Điều tra thử được tiến hành với 30 bảng hỏi và một số phỏng vấn
sâu giúp kiểm chứng mức độ phù hợp của bảng hỏi so với thực tế, tính chất và mức độ dễ hiểu của
mỗi câu hỏi, bổ sung thông tin cho bộ công cụ và xác định những chỉ số phù hợp đối với bảng hỏi.
Phương pháp xử lý thông tin
· Xử lý thông tin định lượng: Đối với phần xử lý thông tin định lượng, các biến số được thiết kế
và nhập liệu bằng chương trình CS-Pro do Tổng cục Thống kê thực hiện, sau đó được chuyển qua
chương trình SPSS 17.0 để kiểm tra chéo và phân tích.
Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
12
· Xử lý thông tin định tính: Phần xử lý thông tin định tính được thực hiện với chương trình Nvivo
8. Cấu trúc xử lý định tính được thiết kế dưới dạng cây thông tin dựa trên bộ tài liệu hướng dẫn
phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
1.4. Phạm vi nghiên cứu và mẫu khảo sát
Đối tượng được phỏng vấn đã xác định gồm hai dạng chính: Hộ nhân khẩu đăng ký thường trú ở
tỉnh, thành phố khác đến tạm trú có nơi cư trú ổn định; hộ nhân khẩu đăng ký thường trú ở tỉnh,
thành phố khác đến tạm trú có nơi cư trú không ổn định và làm ăn theo thời vụ
1
.
Mẫu khảo sát định lượng: Mẫu khảo sát định lượng tại mỗi phường là 200. Tổng số có 600 bảng
hỏi đã được thu thập tại 3 quận khảo sát với số lượng nam, nữ trả lời phỏng vấn tương đối đồng
đều. Những khác biệt về nghề nghiệp cũng được tính đến. Tuổi của LĐDC được xác định từ 18 trở
lên. Vì đối tượng phỏng vấn gồm cả người lao động đến tạm trú có nơi cư trú không ổn định nên
việc tìm kiếm và tiếp cận theo danh sách là tương đối khó khăn. Trong quá trình điều tra, cơ cấu
mẫu cũng bị thay đổi ít nhiều do những nguyên nhân khách quan như chủ trọ hay LĐDC từ chối
hợp tác, LĐDC bận hoặc có công việc đột xuất, LĐDC không đáp ứng được những yêu cầu chọn
mẫu v.v Để đảm bảo tiếp cận được với nhiều đối tượng phỏng vấn ở các ngành nghề khác nhau,
điều tra viên đã phải tranh thủ phỏng vấn cả buổi tối và trong những ngày nghỉ cuối tuần.
Mẫu khảo sát định tính: Tổng số mẫu định tính là 42 phỏng vấn sâu và 12 thảo luận nhóm tại 3
quận được chọn. 25 cuộc phỏng vấn khác được dành cho các đối tượng có liên quan bao gồm: Cán
bộ ngân hàng, bưu điện, công an hộ khẩu, cán bộ chuyên trách phụ trách vấn đề hộ tịch, tổ trưởng
dân phố, chủ trọ v.v để khai thác thêm thông tin về cuộc sống, công việc và nhu cầu sử dụng dịch
vụ giữ tiền, chuyển tiền của người LĐDC trong quá trình họ cư trú và lao động tại thành phố.
1.5. Những hạn chế
· Do sự cư trú không ổn định nên việc quản lý và tìm kiếm đối tượng theo danh sách được thiết kế
trước là vấn đề tương đối khó khăn và nhiều khi không thể thực hiện được. Bên cạnh đó, việc khai
báo tạm trú khách thuê trọ chưa được bản thân người lao động và chủ trọ nghiêm túc thực hiện gây
khó khăn cho việc quản lý đối tượng người nhập cư tại địa phương, đặc biệt là đối tượng nhập cư
thời vụ, chiếm 76,8% trong mẫu phỏng vấn.
· Không ít trường hợp có tâm lý lo ngại khi cung cấp thông tin, đặc biệt là với nhóm lao động giản
đơn (được xác định theo một số tiêu chí của Tổ chức Lao động Quốc tế, xem cụ thể trong phần
ghi chú cuối báo cáo). Họ sợ bị phỏng vấn để xác định thuế thu nhập, sợ bị đưa lên các phương
tiện truyền thông đặc biệt là truyền hình. Với từng đối tượng được phỏng vấn, điều tra viên đã tiến
hành giải thích tỉ mỉ lý do và mục đích của cuộc phỏng vấn trong đó nhấn mạnh tới tính khuyết
danh, khẳng định việc thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành phỏng vấn, nếu LĐDC vẫn cảm thấy lo sợ hoặc không muốn
tiếp tục hợp tác thì cuộc phỏng vấn đó sẽ được dừng lại và giám sát viên có trách nhiệm tìm mẫu
phỏng vấn thay thế.
· Chủ trọ là nhóm khó tiếp cận nhất do một bộ phận trong số họ chưa thực hiện nghiêm túc việc
khai báo tạm trú. Bên cạnh đó họ cũng sợ những thông tin trao đổi sẽ tác động tới người thuê trọ,
người thuê trọ sẽ có cơ hội để so sánh, họ sẽ thắc mắc nếu giá thuê cao hoặc các dịch vụ cung cấp
chưa đầy đủ. Có thể họ sẽ đòi thay đổi giá thuê, yêu cầu bổ sung thêm một số dịch vụ, phát sinh
1 Số liệu thống kê hàng năm về tình trạng cư trú tại Hà Nội do Phòng Cảnh sát Quản lý
hành chính và Trật tự xã hội cung cấp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét