Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp tăng cường nguồn cung lao động Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020

hầu hết các nước, trung bình mỗi năm số người tìm việc làm tăng từ 2% trở lên. Sự gia
tăng nguồn lao động liên quan chặt chẽ với việc tăng dân số. Theo số liệu điều tra dân số
1-4-1999 dân sô Việt Nam là 76,32 triệu người, trong đó khoảng 39 triệu người là lực
lượng lao đông chiếm 51% dân sô. Dự báo ở nước ta mỗi năm trung bình tăng thêm hơn
một triệu lao động, đến năm 2010 thì số người lao động sẽ là khoảng 52 triệu người, và
con số này sẽ là 64.2 triệu người vào năm 2020, vì vậy sức ép về vấn đề giải quyết bài toán
lao động sẽ gây nên một áp lực không nhỏ.
Bảng 1 dân số trung bình Việt Nam qua một số mốc thời gian. (Theo số liệu tổng
cục thống kê)
Tuy nhiên, không chỉ giải quyết bài toán về việc làm, mà hiện nay Việt Nam cũng đang
phải đối mặt với một thực trang đó là nguồn lao động thì dồi dao, song trình độ lao động
và tay nghề chuyên môn của người lao động lại rất thấp.
Đã một thời Việt Nam "tự hào" có nguồn nhân lực đông, giá rẻ. Quả thực cho đến nay, so
với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam vẫn là nơi có giá rẻ về sử dụng lao động. Lợi thế
về giá rẻ lao động đang từng bước thu hẹp. Thậm chí một số chuyên gia kinh tế đã lên
tiếng cảnh báo: Tiếp tục duy trì lao động giá rẻ như hiện nay, đến một lúc nào đó lợi thế sẽ
biến thành bất lợi, thậm chí là cản trở sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như hội nhập,
mở cửa.
Năm 2005 tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp (25%), năm 2006 là (31.9%). Theo chỉ
tiêu đã được hoạch định, đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%. Chỉ số này
hiện thời mới có gần 30%. Từ nay đến 2010 rất khó nâng thêm hơn 10%. Mặt khác, cơ cấu
đào tạo lao động của Việt Nam thể hiện sự "không giống ai" so với thế giới. Bên cạnh việc
chú trọng đúng mức đào tạo đại học và cao đẳng, nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan
5
tâm đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề. Việt Nam thì gần như ngược lại. Chỉ
số đào tạo bình quân của thế giới: 1 đại học, cao đẳng/4 trung cấp chuyên nghiệp/10 đào
tạo nghề, trong khi của Việt Nam là 1/0,98/3,02, gây ra tình trạng "thiếu thợ nhiều hơn
thiếu thầy". Đó là chưa kể trình độ đào tạo cũng còn không ít vấn đề: lý thuyết nhiều hơn
tay nghề, thực tế; trung cấp chuyên nghiệp thì nửa thầy nửa thợ, cao đẳng, đại học thì khoa
học cơ bản chưa đủ, còn khoa học ứng dụng còn yếu. Ngay cả giáo sư, tiến sĩ thì có tới gần
một phần ba là danh nhiều hơn thực. Cán bộ khoa học, kỹ thuật ở cơ sở, ở thực tiễn thì ít.
Ngoài ra còn tình trạng mua bán bằng, Trình độ kỹ thuật - công nghệ còn thấp.
BẢNG 1 : So sánh chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam với một số nước châu Á
Số
TT
Tên nước, lãnh thổ
Mức độ sẵn
có lao động
sản xuất chất
lượng cao
Mức độ sẵn
có các cán bộ
hành chính
chất lượng
cao
Mức độ sẵn
có cán bộ
quản lý chất
lượng cao
Sự thành
thạo tiếng
Anh
Sự thành
thạo công
nghệ cao
1 Hàn Quốc 7,00 8,00 7,50 4,00 7,00
2 Xingapo 6,83 5,67 6,33 8,33 7,83
3 Nhật Bản 8,00 7,50 7,00 3,50 7,50
4 Đài Loan 5,37 5,62 5,00 3,86 7,62
5 Ấn Độ 5,25 5,50 5,62 6,62 6,50
6 Trung Quốc 7,12 6,19 4,12 3,62 4,37
7 Malaixia 4,50 7,00 4,50 4,00 5,50
8 Hồng Công 4,23 5,24 4,24 4,50 5,43
9 Philippin 5,80 6,20 5,60 5,40 5,00
10 Thái Lan 4,00 3,37 2,36 2,82 3,27
11 Việt Nam 3,25 3,50 2,75 2,62 2,50
6
12 Inđônêxia 2,00 3,00 1,50 3,00 2,50
.số liệu theo tổng cục thống kê
Chỉ số năng suất lao động trên đây tự nó chứng tỏ khoảng cách không nhỏ giữa các
nước trong khu vực và chỉ ra Việt Nam đang đứng ở tốp cuối, thua xa nhiều nước trong
khu vực.
Chất lượng nguồn nhân lực thấp làm cho sức cạnh tranh của lực lượng lao động nước
ta thấp. Theo tổ chức Beri, khả năng cạnh tranh của lực lượng lao động nước ta chấm theo
thang điểm 100 như sau:
- 45 điểm về khung pháp lý;
- 20 điểm về năng suất lao động;
- 40 điểm về thái độ lao động;
- 16 điểm về kỹ năng lao động;
- 32 điểm về chất lượng lao động.
Tình trạng trên không chỉ làm cho việc xuất khẩu lao động của ta khó khăn khi phải
cạnh tranh với lao động của Philippin, Thái Lan… mà còn làm cho việc thu hút lao động
vào các khu công nghiệp, khu chế xuất khó khăn hơn.
Ở một góc nhìn khác ta thấy nguy cơ thất nghiệp của người lao động còn bắt nguồn
từ khả năng điều hành sản xuất kinh doanh của đội ngũ doanh nhân nước ta hạn chế. Như
chúng ta đã biết, doanh nhân là đội ngũ giữ vị trí trọng yếu trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Thế nhưng, trình độ năng lực của đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện còn thấp
kém. Theo cuộc điều tra của Cục doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và đầu tư) thực
hiện ở 60.000 doanh nghiệp của 30 tỉnh, thành phía Bắc thì có tới 55,63% số chủ doanh
nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh
nghiệp ở trình độ sơ cấp. Số chủ doanh nghiệp có trình độ tiến sỹ chỉ đạt 0,66%, thạc sỹ
2,33%, đại học 37,82%, cao đẳng 3,56%, trung học chuyên nghiệp 12,33%, còn lại 43,33%
ở trình độ thấp hơn.
2.2 Phần lớn lao động ở nông thôn.
7
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp và
hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Năm 2009,
dân số nông thôn Việt Nam có 62.27 triệu người, chiếm 72.4% tổng dân số cả nước. Tuy
nhiên, vấn đề là ở chỗ lao động nông thôn chiếm 3/4 lao động cả nước nhưng lại tập trung
chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động thấp nhất và cũng là nơi
quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa. Kết quả là nhiều lao động mất đất, hoặc thiếu đất dẫn đến dư thừa lao động và
thiếu việc làm. Thu nhập của lao động ở khu vực nông thôn vì thế mà thấp và thất thường
bởi tính thời vụ và rủi ro cao. Đây chính là lý do khiến tỷ lệ nghèo tập trung chủ yếu ở khu
vực nông thôn.
Có thể nói, hầu như toàn bộ lao động nông nghiệp tập trung ở khu vực nông thôn,
nếu so sánh với tổng lao động có việc làm của cả nước thì lao động nông nghiệp nông thôn
vẫn chiếm quá bán, khoảng 50.5%. Nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy, tỷ
lệ lao động nông nghiệp nông thôn đã có chuyển biến, giảm từ 82.3% năm 1996 xuống
còn 74.2% năm 2009, mức giảm tuy nhỏ so với một số nước cùng khu vực nhưng, nó đã
thể hiện được sự nỗ lực của cả một nền kinh tế
2.3 Còn một bộ phận lớn lao động chưa được sử dụng.
Việc đánh giá tình trạng chưa sử dụng hết lao động phải xem xét qua các hình thức biểu
hiện của thất nghiệp – thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình.
Bảng 2: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động
trong độ tuổi năm 2009 phân theo vùng
(*)
Đơn vị %

Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn


CẢ NƯỚC
2.38 4.65 1.53 5.10 2.34 6.10
Đồng bằng sông Hồng
2.29 5.35 1.29 6.85 2.13 8.23
Trung du và miền núi phía
Bắc 1.13 4.17 0.61 2.55 2.47 2.56
Bắc Trung Bộ và duyên 2.24 4.77 1.53 5.71 3.38 6.34
8
hải miền Trung
Tây Nguyên
1.42 2.51 1.00 5.12 3.72 5.65
Đông Nam Bộ
3.74 4.89 2.05 2.13 1.03 3.69
Đồng bằng sông Cửu
Long 2.71 4.12 2.35 6.39 3.59 7.11
Số liệu theo tổng cục thống kê
Do sức ép về dân số và những khó khăn về kinh tế ở các nước đang phát triển đã tác
động lớn đến vấn đề công ăn việc làm ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, tình trạng
thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng gia tăng đặc biệt ở khu vực thành thị.
Dân số đông tạo nên thị trường nội địa rộng lớn, một yếu tố hết sức quan trọng đối với
việc phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên, do tình trạng kém phát triển và có nhiều chế độ
đối với nguồn lực khác, việc dân số phát triển nhanh chóng lại là một gánh nặng cho việc
cải thiện cơ hội tìm việc làm và điều kiện sống. Vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta được
xem là vấn đề kinh tế – xã hội rất tổng hợp và phức tạp. Chiến lược ổn định và phát triển
xã hội đến năm 2009 của Việt Nam đã khẳng đinh, “ Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa
tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một tiêu
chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ”. Trên phạm vi rộng, giải quyết
việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực. Còn theo phạm vi hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng
và mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, nâng cao hiệu quả
việc làm và tăng thu nhập.
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn cung lao động ở Việt Nam.
3.1 Dân số: Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Sự biến động dân số là kết
quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ
cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động.
3.2 Tỷ lệ tham gia lao động: Theo khái niệm lực lượng lao động nêu ở trên thì chỉ tiêu " tỉ
lệ tham gia lưc lượng lao động " nói chung được hiểu là tỉ số phần trăm giữa số người đủ
15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ này được tính
bằng:
Tỷ lệ tham gia LLLĐ số người trong độ tuổi thuộc LLLĐ
của dân số trong độ = * 100%
9
tuổi lao động ∑dân số trong độ tuổi lao độn
3. 3 Một số yêu tố khác ảnh hưởng tới chất lượng của nguồn cung lao động Việt Nam
hiện nay.
a. Giáo dục và trình độ lao động
Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao
kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời.
Giáo dục phổ thông ( giáo dục cơ bản ) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để phát
triển năng lực cá nhân. Giáo dục nghề và giáo dục đại học vừa giúp người học có kiến thức
đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và chuyên môn. Với mỗi trình độ đào tạo
nhất định, người được đào tạo biết được họ sẽ phải đảm nhận những công việc gì. Yêu cầu
kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào.
Vai trò của giao dục đối với việc nâng cao chất lượng lao động được phân tích qua nội
dung sau.
Thứ nhất, giáo dục là cách thức để tích lũy vốn con người đặc biệt là tri thức và sẽ giúp
con người sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công mới do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
dài hạn.
Thứ hai, giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ năng làm việc với năng
suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Vai trò của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu “ tỷ suất lợi nhuận
cho giáo dục”. Về lý thuyết, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáo dục cũng giống như lợi nhuận
đầu tư vào bất kỳ một dự án nào khác. Đó là tỷ lệ phầm trăm của lợi nhuận từ đầu tư ở một
mức độ giáo dục nhất định với tổng các chi phí khác. So sánh chỉ số này giữa các cấp giáo
dục có thể giúp cho việc đánh giá lợi ích kinh tế của đầu tư giáo dục ở cấp nào hiệu quả
hơn.
Kết quả nghiên cứu của các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào cấp tiểu học
là cao hơn các cấp khác. Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận chung của thế giới ( đầu thập niên
90) ở cấp tiểu học là 18.4%, ở cấp trung học là 13.2%, đại học là 10.9%. Các số liệu tương
ứng của Việt Nam là 10.8%, 3.8%, 3.0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu học và
giáo dục cơ bản có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do vây
10
chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều và ưu tiên nhiên hơn
cho giáo dục tiểu học.
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dân, đặc
biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sức khỏe, dinh dưỡng.
Chẳng hạn tỷ lệ tử vong trẻ em giảm xuống, tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em tăng lên, cùng với học
vấn của cha mẹ, đặc biệt là của người mẹ vì biết sin hoạt vệ sinh hơn, hay biết cách sử
dụng những thức ăn giầu chât dinh dưỡng hơn Với ý nghĩa trên giáo dục còn góp phần
vào việc bổ sung cho các dịch vụ y tế( giảm nhu cầu về những dịch vụ y tế)
b, Sức khỏe người lao động
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không
phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật.
Sức khỏe có tác động tới chất lượng của lao động cả hiện tài và tương lai. Người lao động
có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc nâng
cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc.
Sức khoẻ là một vấn đề rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số nói
chung và chất lượng lao động nói riêng, nó là một trong chiến lược phát triển con người ở
mỗi quốc gia trên Thế giới. Khi nói tới sức khoẻ bao gồm 2 khía cạnh : sức khoẻ tinh thần
và thể lực con người, chúng ta thường nói “ Có sức khoẻ là có tất cả”, Bởi sức khoẻ giúp
con người làm việc tốt và chủ động tham gia vào các hoạt động đời sống kinh tế xã hội,
cộng đồng. Vì vậy, muốn phát triển đất nước, trước hết phải quan tâm tới yếu tố này, lấy
con người làm trung tâm .Do tầm quan trong của sức khỏe là rất lớn do đó phải tập trung
về vấn đề này ngay từ đầu. Nhà nước cần có các chính sách đặc biệt dành cho trẻ nhỏ và bà
mẹ để có thể đảm bảo được một nguồn lao động dồi dào và chất lượng ngay từ nhỏ.
c. Yếu tố trách nhiệm và tác phong công nghiệp
Về ý thức trách nhiệm đó là thể hiện trong mối quan hệ với nhiệm vụ được giao, với
công việc phải làm. Khi được giao việc gì, bất kỳ to, hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải dồn hết
tâm huyết làm đến nơi, đến chốn, tự giác làm. Nếu làm việc theo lối cẩu thả, dễ làm, khó
bỏ, làm cho qua chuyện, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Ý thức
trách nhiệm còn thể hiện không thụ động, trông chờ, ỷ lại; phải chủ động trong cộng việc
được giao.
11
Tác phong công nghiệp đó là là cách ứng xử, cách làm việc, cách giao tiếp trong công
nghiệp. Đó là sự thể hiện của một cá nhân hay tập thể tới công việc làm được giao, nó
biểu hiện tính trách nhiệm với công việc, có thể nói đó là một yếu tố quan trọng không
kém so với hai yếu tố ở trên. Hiện nay tác phong làm việc của người Việt Nam vẫn còn
chưa tốt. Nó được thể hiện qua sự chậm trễ hay thiếu nhiệt tinh với công việc. Ngày nay
khi đất nước đang phát triển thì việc nâng cao tính kỷ luật và tác phong làm việc là cần
thiết. Việt Nam nên học tập những nước có phong cách làm việc hiệu quả như Mỹ, Nhật
Bản Để có thể đạt được điều này không phải là đơn giản với nước ta, cần phải có những
biện pháp thích hợp cả về khen thưởng và kỷ luật để có thể đạt được hiệu quả tốt.
II- Thực trạng nguồn cung lao động Việt Nam hiện nay
* Tổng quan về cơ cấu nguồn lao động ở Việt Nam giai đoạn 2000-2009
1 Cơ cấu lao động chia theo nhóm ngành kinh tế:
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có tiến bộ, song còn khó khăn
và chậm chạp. Đến nay đại bộ phận lực lượng lao động vẫn tập trung trong ngành nông -
lâm - ngư nghiệp.
BẢNG 3 : Cơ cấu lao động theo nhóm ngành
Đơn vị: %
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 2009
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Nông,
lâm
nghiệp,
thuỷ sản
73,0 71,3 65,1 63,5 61,9 60,2 58,7 57,2 55,7 53,9 52,5
Công
nghiệp -
xây dựng
11,2 11,4 13,1 14,4 15,4 16,4 17,4 18,3 19,1 20,0 20,8
Dịch vụ 15,8 17,3 21,8 22,2 23,3 23,3 23,9 24,5 25,3 26,1 26,7
Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100
12
Bảng 4: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2000-2008
65.1
13.1
21.8
63.5
14.4
22.2
61.9
15.4
23.3
60.2
16.4
23.3
58.7
17.4
23.9
57.2
18.3
24.5
55.7
19.1
25.3
53.9
20
26.1
52.5
20.08
26.7
0%
20%
40%
60%
80%
100%
%
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
năm
Biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 - 2008
nông nghiệp công nghiệp dịch vụ
Tính đến năm 2008 tỷ trọng lao động trong nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới 52,5%,
trong ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ là 20,8% và 26.7% trong tổng số lao
động có việc làm của cả nước. Tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp cao
phản ảnh mức đột thu hút lao động vào các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa thực sự đủ
mạnh để có thể làm thay đổi một cách căn bản cơ cấu lao động xã hội.
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực giảm tỷ lệ
lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp; năm 2000: tỷ lệ lao động có việc làm trong
khu vực nông-lâm-ngư nghiệp 65,1%, công nghiệp-xây dựng 13,1% và dịch vụ là 21,8% tỷ
lệ này tương ứng năm 2008 là 52,5%; 20,8% ; 26,7%.
Trong tổng số lao động tăng thêm từ năm 1990 đến 2008 (15.624,9 nghìn người )
Nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm 13,8
% tổng số tăng
13
Nhóm nghành công nghiệp – xây dựng đã thu hút thêm được 6.079,8 nghìn người, chiếm
38,9% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3% tổng số tăng
Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm được nhiều nhất, tiếp đến là công nghiệp xây dựng
và cuối cùng là nông, lâm nghiệp và thủy sản. Do năng suất lao động của nhóm nghành
công nghiệp – xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và của nhóm nghành dịch vụ ( 46.849
nghìn đồng/ người) cao hơn nhóm nghành nông, lâm nghiệp và thủy sản (13.764 nghìn
đồng / người).
Trong 3 khu vực kinh tế lớn (nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) thì khu
vực công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn 2 khu vực kia và cao hơn tốc độ
tăng trưởng chung của nền kinh tế nên tỷ trọng đã tăng nhanh. Tỷ trọng khu vực công
nghiệp - xây dựng trong GDP vượt mục tiêu 39-40% cho năm 2005. Trong khi đó tốc độ
tăng trưởng của khu vực dịch vụ nhìn chung còn rất chậm, đặc biệt một số ngành dịch vụ
quan trọng (ngân hàng - tài chính, khoa học công nghệ) đang chiếm tỷ trọng thấp và lại có
xu hướng giảm. Khối công nghiệp - xây dựng tuy có tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn khu
vực nông - lâm - ngư nghiệp song sức hút lao động lại không tăng tương ứng. Đó là hệ quả
của tình trạng phần lớn những ngành được tập trung đầu tư đạt tốc độ tăng trưởng cao là
những ngành cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động và những ngành thay thế nhập
khẩu. Những năm qua, cơ cấu ngành đạt được những bước tiến nhất định, dù chỉ ở trên
phương diện tỷ trọng, trong khi đó cơ cấu lao động chuyển dịch quá chậm, đến mức có thể
nói là không có chuyển dịch. Tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp - nông thôn
giảm không đáng kể trong khi số lao động tuyệt đối vẫn có xu hướng tăng; tỷ trọng lao
động công nghiệp hầu như không tăng. Còn khu vực dịch vụ, tuy có tạo thêm khá nhiều
việc làm mới nhờ sự phát triển bùng nổ của khu vực tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp có
hiệu lực ban hành song cũng không có khả năng xoay chuyển tình hình một cách nhanh
chóng và căn bản. Điều đó làm tăng thêm áp lực việc làm - thất nghiệp vốn đã cực kỳ gay
gắt. Do tác động kìm hãm của xu hướng đầu tư kích cầu những năm qua nhằm vào khu
vực doanh nghiệp nhà nước và cho các dự án đầu tư sử dụng nhiều vốn thay vì sử dụng
nhiều lao động, Chương trình điều chỉnh cơ cấu thực hiện trong những năm qua đã không
tạo được bước chuyển đáng kể nào trong việc giải quyết vấn đề việc làm. Nói tóm lại,
chuyển dịch cơ cấu ngành về mặt số lượng đã có những bước tiến nhất định, nhưng lại hầu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét